Trong điều kiện biến đổi khí hậu và tình trạng ngập úng ngày càng gia tăng tại nhiều vùng sản xuất nông nghiệp, việc nghiên cứu khả năng thích nghi của cây trồng với điều kiện ngập nước trở nên đặc biệt quan trọng, trong đó có cây mía. Cây mía là một trong những cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, là nguồn nguyên liệu duy nhất phục vụ ngành công nghiệp chế biến đường tại Việt Nam, là một trong những cây công nghiệp quan trọng, ngập nước có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nảy mầm, sinh trưởng và phát triển của cây. Chính vì vậy, nhóm tác giả thuộc Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã thực hiện nghiên cứu “Ảnh hưởng của điều kiện ngập đến khả năng sinh trưởng và phát triển của mía (Saccharum officinarum L.)”, nghiên cứu tập trung đánh giá tác động của thời gian ngập nước đến giống mía ROC10 trong điều kiện nhà lưới, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho canh tác hiệu quả hơn.

Trong thí nghiệm thứ nhất, hom mía được xử lý ngập trong nước với thời gian từ 1 đến 8 ngày, sau đó chuyển sang điều kiện bình thường để tiếp tục theo dõi sinh trưởng. Kết quả cho thấy khi thời gian ngập ở mức 1-3 ngày, khả năng nảy mầm của hom mía ROC10 hầu như không bị ảnh hưởng đáng kể. Tuy nhiên, khi thời gian ngập kéo dài từ 5 ngày trở lên, tỷ lệ nảy mầm bắt đầu giảm rõ rệt.

Đặc biệt, ở công thức xử lý ngập 8 ngày, hom mía gần như không còn khả năng nảy mầm và chiều cao mầm giảm đáng kể so với các công thức xử lý khác.

leftcenterrightdel

Hình 1. Ảnh hưởng của thời gian xử lý ngập đến tỷ lệ nảy mầm của hom mía của giống ROC10

Ở thí nghiệm thứ hai, các nhà nghiên cứu tiến hành xử lý ngập đối với cây mía 100 ngày tuổi trong thời gian 5, 10 và 15 ngày bằng cách đặt các chậu cây vào thùng nhựa chứa nước, đảm bảo cây bị ngập hoàn toàn.

Kết quả cho thấy điều kiện ngập nước đã ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây mía. Chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, chỉ số diệp lục (SPAD) và hiệu suất quang hợp (Fv/Fm) đều có xu hướng giảm khi thời gian ngập kéo dài.

leftcenterrightdel

Ghi chú: Các giá trị có cùng chữ cái biểu thị sự sai khác không có ý nghĩa với P ≤0,05 và ngược lại.

Hình 2. Tỷ lệ nảy mầm của các giống mía tại 20 ngày sau giâm (NSG)

leftcenterrightdel

Ghi chú: So sánh trung bình giữa các công thức thể hiện tại 20 NSG. Các giá trị có cùng chữ cái biểu thị sự sai khác không có ý nghĩa với P ≤0,05 và ngược lại.

Hình 3. Ảnh hưởng của thời gian xử lý ngập
đến chiều cao cây con mía giống ROC10 tại 10, 15 và 20 ngày sau giâm

leftcenterrightdel

Ghi chú: So sánh trung bình giữa các công thức thể hiện tại 20 NSG. Các giá trị có cùng chữ cái biểu thị sự sai khác không có ý nghĩa với P ≤0,05 và ngược lại.

Hình 4. Ảnh hưởng của thời gian xử lý ngập đến số lượng lá hình thành
của cây con mía giống ROC10 tại 10, 15 và 20 ngày sau giâm (NSG)

Bên cạnh đó, sự hình thành rễ bất định - một đặc điểm thích nghi của cây trong điều kiện thiếu oxy - cũng có sự thay đổi đáng kể. Kết quả cho thấy công thức ngập 15 ngày giúp giống mía ROC10 hình thành rễ bất định mạnh nhất, cho thấy khả năng thích nghi của cây mía trong điều kiện ngập úng kéo dài.

leftcenterrightdel

Ghi chú: Mũi tên xanh chỉ mực nước xử lý ngập; Mũi tên đỏ chỉ vị trí các đốt rễ trên mặt nước xuất hiện rễ bất định.

Hình 5. Ảnh hưởng của các công thức ngập khác nhau
đến khả năng hình thành rễ bất định trên giống ROC10

Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc quản lý canh tác mía tại vùng thường xuyên xảy ra ngập úng, đồng thời giúp nhà khoa học và người sản xuất hiểu rõ hơn về cơ chế thích nghi của cây mía trong điều kiện bất lợi.

Những kết quả này cũng là tiền đề cho nghiên cứu tiếp theo nhằm lựa chọn giống mía phù hợp với điều kiện sinh thái, nâng cao hiệu quả sản xuất và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Chi tiết xem tại: https://vie.vjas.vn/index.php/vjasvn/article/view/2388/2308

Đào Hương - Nhà xuất bản