Đối với Việt Nam - quốc gia có hơn 60% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn, và kinh tế nông nghiệp mang thế mạnh lịch sử, nông nghiệp được Đảng và Nhà nước xác định là 'trụ đỡ' vững chắc của nền kinh tế.
Từ bình minh của nền văn minh nhân loại, nông nghiệp (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và môi trường) luôn giữ vai trò là mạch nguồn sự sống, là bệ đỡ cốt lõi cho sự ổn định kinh tế, chính trị an sinh xã hội; và sự bảo tồn, lưu giữ và phát triển của các nền văn minh, các giá trị văn hóa bản địa.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi thế giới đang đối mặt với các thách thức phi truyền thống vô cùng nghiêm trọng như biến đổi khí hậu, suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, khủng hoảng an ninh lương thực, bất ổn địa-chính trị; và xu thế phát triển xanh bền vững đang lên ngôi; nông nghiệp không còn đơn thuần là việc canh tác thô sơ tự cung tự cấp, ngành nông nghiệp hiện đại đang vươn mình trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật tích hợp công nghệ cao, đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn của khoa học sinh học, công nghệ số, kinh tế tuần hoàn và quản trị chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với Việt Nam - quốc gia có hơn 60% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn, và kinh tế nông nghiệp mang thế mạnh lịch sử, nông nghiệp được Đảng và Nhà nước xác định là 'trụ đỡ' vững chắc của nền kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và an ninh lương thực quốc gia trong mọi biến động địa chính trị.
Sự phát triển vượt bậc của khối Nông - Lâm - Thủy sản thời gian qua đã biến Việt Nam thành một trong những trung tâm xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới với tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt mốc kỷ lục 70.09 tỷ USD. Tuy nhiên, sự chuyển dịch mạnh mẽ sang nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số và phát triển xanh hiện nay đang đối mặt với một 'điểm nghẽn' mang tính sống còn: sự thiếu hụt và suy giảm nhanh chóng của nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo bài bản, có đủ phẩm chất và năng lực để gánh vác sứ mệnh mới của ngành nông nghiệp trong Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Thực trạng và nghịch lý “cung – cầu” qua khảo sát tại 7 cơ sở đào tạo
Tác giả thực hiện khảo sát dữ liệu tuyển sinh, tỷ lệ việc làm và mức lương khởi điểm thực tế năm 2026 tại 7 cơ sở giáo dục đại học đang đào tạo khối ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp và Môi trường cho thấy một nghịch lý: Thị trường lao động và các tập đoàn nông nghiệp công nghệ cao đang trong tình trạng 'khát' nhân lực chuyên môn rất nghiêm trọng, sẵn sàng trả mức đãi ngộ vượt trội, nhưng điểm chuẩn đầu vào đại học các ngành này lại chạm mức sàn và đang khó thu hút thí sinh, trừ Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Số liệu thực chứng từ bảng trên cho thấy sự chênh lệch rất lớn giữa cung và cầu. Tại Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (TUAF), số chỉ tiêu tuyển dụng doanh nghiệp mang đến Ngày hội việc làm lên tới 4.000 - 6.000 vị trí, nhưng nhà trường chỉ có vỏn vẹn 300 sinh viên tốt nghiệp (cầu vượt cung từ 13.3 đến 20 lần). Đặc biệt, trong ngành Công nghệ chế biến lâm sản tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Huế (HUAF) chỉ đào tạo được khoảng 200 kỹ sư/năm so với nhu cầu 30.000 kỹ sư của 2.000 doanh nghiệp chế biến gỗ (cung chỉ đáp ứng 0.67% nhu cầu). Rõ ràng, điểm chuẩn trúng tuyển liên tục chạm sàn 15 - 16 điểm không đến từ việc thiếu cơ hội việc làm hay thu nhập thấp, mà do những rào cản nhận thức và chính sách mang tính hệ thống.
Giải mã các nguyên nhân
Nghịch lý “cung không đủ cầu nhưng đầu vào thấp” xuất phát từ ba điểm nghẽn cốt lõi:
Định kiến lịch sử về ám ảnh về nghề nông: Đại đa số học sinh và phụ huynh trong quá trình đô thị hóa chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi định kiến cho rằng học nông - lâm - ngư nghiệp là làm công việc vất vả ngoài thực địa, dầm mưa dãi nắng và “kém sang”. Họ không biết rằng nông nghiệp hiện đại đã chuyển mình thành nông nghiệp số, nơi các “kỹ sư áo trắng” điều khiển drone xạ giống, bón phân, phun thuốc, vận hành cảm biến IoT trong nhà màng và phân tích dữ liệu gen sinh học.
Chênh lệch thu nhập vĩ mô và khoảng trống hướng nghiệp: Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thu nhập bình quân của lao động nông nghiệp toàn quốc hiện chỉ bằng khoảng 50% so với lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ. Khi đối mặt với chi phí sinh hoạt đắt đỏ tại đô thị, thí sinh có xu hướng thực dụng chọn các ngành dịch vụ dễ tìm việc văn phòng, “mưa không đến mặt, nắng không đến đầu”. Bên cạnh đó, công tác hướng nghiệp tại các trường trung học phổ thông gần như chưa thông tin nhiều về bức tranh công nghệ cao của nền nông nghiệp hiện đại.
Sự đứt gãy đòn bẩy vĩ mô và thiếu hụt năng lực khởi nghiệp: Khi ngành Sư phạm được hỗ trợ 100% học phí và sinh hoạt phí (Nghị định 116), ngành nông - lâm - thủy sản - trụ đỡ an ninh lương thực - lại bị bỏ trống các cơ chế khuyến khích vĩ mô tương tự suốt nhiều năm. Thêm vào đó, khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy chỉ có 29.16% chương trình đào tạo nông nghiệp tích hợp kỹ năng khởi nghiệp vào chuẩn đầu ra và 37.5% có môn học kinh doanh. Đào tạo nặng lý thuyết sinh học thuần túy khiến sinh viên thiếu tự tin khi tự tạo lập doanh nghiệp sau này.
Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị khung thể chế bứt phá
Kinh nghiệm từ các cường quốc nông nghiệp thế giới gợi mở những bài học vô cùng quý giá cho Việt Nam:
Thứ nhất, mô hình Food Valley (Thung lũng Thực phẩm), Seed Valley (Thung lũng Hạt giống) của Hà Lan: Hà Lan là quốc gia diện tích nhỏ nhưng xuất khẩu nông sản lớn thứ hai thế giới nhờ “trái tim” là Đại học Wageningen (WUR) và hệ sinh thái Food Valley, Seed Valley. Mô hình vận hành dựa trên cơ chế “Bộ Ba Helix” (Triple Helix) gắn kết chặt chẽ: Nhà nước (kiến tạo thể chế, ưu đãi thuế, tài trợ vốn hạt giống) - Nhà trường (hạt nhân tri thức, R&D thực chiến) - Doanh nghiệp (đặt hàng nghiên cứu, đầu tư tài chính, bao tiêu nhân lực). Chương trình đào tạo tích hợp công nghệ thông tin, AI, khoa học đời sống và thương mại hóa sản phẩm ngay trên ghế nhà trường.
Thứ hai, triết lý đào tạo R&D của Israel và chính sách “Smart Farm Youth Incubation” của Nhật Bản - Hàn Quốc: Israel biến sa mạc thành trang trại nhờ coi đào tạo nông nghiệp là đào tạo chuyên gia R&D và quản trị công nghệ cao. Trong khi đó, Nhật Bản và Hàn Quốc áp dụng chính sách “Smart Farm Youth Incubation”, cấp khoản tài trợ không hoàn lại và gói vay 0% lãi suất dài hạn cho thanh niên tốt nghiệp đại học nông nghiệp trở về quê hương lập trang trại thông minh, với sự bảo hiểm rủi ro từ hệ thống Hợp tác xã.
Để giải quyết tận gốc rễ rào cản tài chính và thúc đẩy nông nghiệp tuần hoàn, Việt Nam cần thực hiện cuộc cách mạng thể chế trên những trụ cột chính sau:
Giải phóng 'vốn chết' (Dead Capital) trên đất nông nghiệp: Hiện nay, hàng nghìn tỷ đồng hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao (nhà kính, hệ thống tưới tự động, chuồng trại thông minh) chưa được pháp luật cấp giấy chứng nhận sở hữu tài sản gắn liền với đất, nên ngân hàng từ chối việc chấp nhận các tài sản này làm tài sản thế chấp. Cần ban hành hướng dẫn định giá và cấp chứng nhận sở hữu tài sản trên đất nông nghiệp để biến “vốn chết” thành tài sản ngân hàng (Bankable Assets), mở đường cho tín dụng xanh.
Chuyển đổi sang “Green TFP” và quản trị Carbon đất (Soil Carbon Governance): Canh tác hóa học lâu đời đã làm suy giảm từ 25% đến 75% lượng Carbon hữu cơ trong đất (SOC). Chuyển đổi sang Nông nghiệp Xanh (Green TFP) yêu cầu chuyển từ tư duy đất là chất nền hóa học sang hệ sinh học, là cơ thể sống. Cần quản trị hệ sinh thái đất thông qua việc tích lũy Carbon khoáng hóa bền vững (MAOM), cân bằng tỷ lệ C/N để tránh nguy cơ bùng phát khí N2O (có tiềm năng gây hiệu ứng nhà kính gấp 298 lần CO2). Thực chứng thành công qua Thỏa thuận ERPA Lâm nghiệp (51.5 triệu USD, 10.3 triệu tín chỉ carbon) và Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao phát thải thấp tại ĐBSCL (giảm 30% methane, thu ~2.500 tỷ đồng/năm từ tín chỉ carbon).
Thiết lập cơ chế thẩm định tín dụng xanh “kiềng ba chân”: Tháo gỡ sự dè chừng của ngân hàng bằng mô hình liên kết ba bên: Ngân hàng (quản trị rủi ro tài chính, cấp vốn) - Nhà khoa học/Đại học (thẩm định thiết kế tuần hoàn, lượng hóa lợi ích môi trường, giám sát kỹ thuật) - Hợp tác xã/SME (thực thi canh tác, cung cấp dữ liệu thực địa). Đồng thời tái cấu trúc hợp tác xã thành đầu mối gom tín chỉ Carbon (Cooperative Aggregator) để giảm chi phí MRV cho nông hộ nhỏ.
    |
 |
| Ảnh minh họa: Sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong giờ thực hành (Ảnh: Thiều Trang) |
Khuyến nghị thể chế và giải pháp chính sách đột phá
Ban hành và mở rộng chính sách miễn 100% học phí & cấp sinh hoạt phí: Cần sớm thông qua và thực thi Dự thảo sửa đổi Nghị định 238/2025/NĐ-CP miễn 100% học phí từ năm học 2026-2027 cho các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản, Thú y, Phát triển nông thôn, Môi trường. Đồng thời, xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia cấp sinh hoạt phí 3,63 triệu đồng/tháng cho sinh viên các ngành đặc thù khó tuyển như Quản lý bảo vệ rừng, Nông học và Bảo vệ thực vật, Thổ nhưỡng-Nông hóa, Nuôi trồng thủy sản, Khoa học Môi trường.
Cải cách chính sách tiền lương và phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp dã ngoại: Nâng hệ số lương khởi điểm, bổ sung phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại thực địa cho kỹ sư nông lâm nghiệp công tác tại vùng sâu, vùng xa, hải đảo. Đặc biệt tăng căn bản thu nhập cho lực lượng kiểm lâm và nhân viên bảo vệ rừng để ngăn chặn làn sóng nghỉ việc, giữ gìn tài nguyên rừng quốc gia.
Tái cấu trúc mô hình quản trị đại học đa ngành tích hợp công nghệ số & AI: Đổi mới triệt để chương trình đào tạo, tích hợp AI, IoT, Big Data, kinh tế xanh và đưa kỹ năng khởi nghiệp vào chuẩn đầu ra bắt buộc (phấn đấu đạt >80% vào năm 2030). Chuyển dịch các trường đại học nông lâm thành trung tâm đổi mới sáng tạo thực chiến. Hợp nhất/sáp nhập các cơ sở giáo dục đại học quy mô nhỏ, khó tuyển sinh vào cơ sở giáo dục mạnh, tuyển sinh tốt, theo mô hình UC (University of California) của Hoa Kỳ, tạo thành các “quả đấm thép” của ngành giáo dục, cạnh tranh bình đẳng và sòng phẳng với các đại học nông nghiệp lừng danh trên thế giới như Waginingen (Hà Lan), UC Davis (Mỹ), Upsala (Thụy Điển), Đại học Nông nghiệp Trung Quốc CAU (Trung Quốc), Nodai (Nhật Bản).
Thành lập Quỹ Đổi mới Sáng tạo và Khởi nghiệp Nông nghiệp Quốc gia: Chính phủ nên thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm và cung cấp các gói vay ưu đãi 0% lãi suất cho sinh viên xuất sắc tốt nghiệp khối ngành nông lâm xây dựng trang trại thông minh, doanh nghiệp khởi nghiệp sinh học tại địa phương.
Đẩy mạnh ngoại giao giáo dục và hợp tác quốc tế: Sử dụng ngân sách nhà nước gửi giảng viên và sinh viên xuất sắc đi đào tạo tại các trung tâm nông nghiệp hàng đầu (Hà Lan, Israel, Nhật Bản, Đan Mạch), tạo dựng đội ngũ chuyên gia đầu đàn dẫn dắt sự nghiệp hiện đại hóa nông nghiệp nước nhà.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành nông - lâm - ngư nghiệp và môi trường không còn là lựa chọn mang tính thẩm mỹ hay giải pháp tình thế, mà là vấn đề mang tầm chiến lược an ninh quốc gia. Đầu tư cho giáo dục đại học nông nghiệp và sức khỏe sinh học của đất hôm nay chính là hợp đồng bảo hiểm đắt giá nhất cho sự phát triển hùng cường, xanh tươi và bền vững của nông nghiệp Việt Nam trong tương lai.
Trần Đức Viên
https://giaoduc.net.vn/