Trên thế giới hầu như không dùng một ngưỡng cụ thể nào đối với các thành viên Hội đồng khoa học các cấp.

Nghịch lý hiện nay là chúng ta đang thực hiện tự chủ trong khi các thiết chế quản trị cấp cao tại trường (Hội đồng trường) đã không còn tồn tại. Điều này đặt ra một câu hỏi lớn: Ai sẽ là người giám sát tính minh bạch của các Hội đồng chuyên môn tại các cơ sở giáo dục đại học?

Nếu không có một cơ chế giám sát độc lập và minh bạch, việc trao quyền hoàn toàn cho các cơ sở giáo dục đại học có thể dẫn đến nguy cơ "lạm phát giáo sư" ở những đơn vị thiếu nghiêm túc, làm “loãng” giá trị của đội ngũ trí thức.

Vấn đề là: Liệu các đại học Việt Nam hiện nay đã đủ "trưởng thành" về quản trị đại học và "liêm chính" về học thuật và đủ mạnh về cơ chế giám sát để tự cầm cân nảy mực trong việc xét và bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư mà không cần đến sự giám sát chặt chẽ từ một cơ quan trung ương?

Một phần của câu hỏi này đã được trả lời ở bài "Điểm nghẽn của quy định hiện hành trong xét, công nhận GS, PGS và hướng tháo gỡ" mà Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đăng tải ngày 11/5, trong bài này chúng tôi xin phép được tiếp tục đề cập đến những vấn đề còn lại của cả “câu chuyện” mà chúng ta đang cùng quan tâm.

Xây dựng Hội đồng Khoa học và Đào tạo thành màng lọc học thuật công tâm

Theo góc nhìn quản trị, để Hội đồng Khoa học và Đào tạo thực sự là một màng lọc học thuật công tâm và không bị thao túng bởi các nhóm lợi ích cục bộ trong xu hướng sẽ có các thành viên Hội đồng đến từ các trường, viện, hiệp hội, doanh nghiệp ngoài nhà trường. Vậy chúng ta nên thiết kế cơ cấu thành phần của Hội đồng Khoa học và Đào tạo như thế nào để đảm bảo tính khách quan tối đa?

Việc thiết kế cấu trúc của Hội đồng Khoa học và Đào tạo là một bài toán quản trị khá nhạy cảm và mang tính chiến lược. Sự va chạm văn hóa giữa khối “nghiên cứu thuần túy” (từ các viện) khối “giảng dạy truyền thống” (từ các khoa) và khối kinh doanh thuần túy (doanh nghiệp) rất dễ tạo ra các nhóm lợi ích cục bộ nếu cơ chế phân bổ quyền lực không được thiết kế chặt chẽ và tâm phục khẩu phục.

leftcenterrightdel
 Lễ trao quyết định bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2025 tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: VNUHCM-US

Dưới góc độ quản trị đại học hiện đại, để Hội đồng Khoa học và Đào tạo thực sự là một màng lọc công tâm, chúng ta cần tái cấu trúc dựa trên nguyên tắc “cân bằng động và kiểm soát chéo”.

Xin nêu một số đề xuất cụ thể và góc nhìn thực tế về việc áp dụng các bài học từ các nước phát triển cũng như từ thực tiễn Việt Nam.

Thiết kế cơ cấu Hội đồng Khoa học và Đào tạo đảm bảo tính khách quan tối đa

Cơ cấu Hội đồng Khoa học và Đào tạo không nên được chia theo đơn vị “hành chính” (mỗi đơn vị một người), mà phải được chia theo định hướng chuyên môn và năng lực thực chất.

Tỷ lệ cấu trúc 3 chân kiềng, gồm 3 nhóm như sau:

Nhóm nội bộ (khoảng 60-70%): Chia đều trọng số giữa đại diện khối giảng dạy, nghiên cứu cơ bản và đại diện khối nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu mũi nhọn. Các thành viên này phải được bầu chọn qua bình duyệt đồng cấp ẩn danh từ cơ sở, dựa trên thành tích nghiên cứu và đóng góp thực tế, không mặc định “đóng ghế” cho các trưởng khoa/viện trưởng và ngay cả hiệu trưởng.

Nhóm độc lập/bên ngoài (khoảng 20-30%): Đây là màng lọc chống “cận huyết học thuật” quan trọng nhất. Cần mời các nhà khoa học uy tín từ các trường/viện đối tác, hoặc chuyên gia từ khối doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp (đặc biệt trong các lĩnh vực có tính ứng dụng thực tiễn cao), thậm chí là chuyên gia nước ngoài. Những thành viên độc lập này không có lợi ích cục bộ liên quan đến phân chia ngân sách hay nhân sự nội bộ của trường, nên tiếng nói của họ sẽ khách quan hơn;

Cơ chế “nhiệm kỳ so le”: Không thay mới toàn bộ Hội đồng cùng một lúc. Mỗi 2 năm sẽ thay thế 1/3 hoặc 1/2 số lượng thành viên. Việc này ngăn chặn sự hình thành của một “nhóm quyền lực” cố kết lâu dài và đảm bảo tính kế thừa trong các quyết sách chiến lược.

Hội đồng tiểu ban chuyên môn: Trong những phiên họp bỏ phiếu xét giáo sư, phó giáo sư hoặc xét duyệt dự án lớn, Hội đồng Khoa học và Đào tạo không nên bỏ phiếu đại trà. Cần thành lập các tiểu ban hẹp theo từng lĩnh vực chuyên sâu/chuyên ngành hẹp. Chỉ những thành viên có am hiểu sâu về chuyên ngành hẹp mới được quyền đánh giá trọng yếu, các thành viên khác chỉ giám sát về mặt quy trình và định hướng chung.

Sử dụng trong đánh giá nhân sự học thuật: Quốc tế với Việt Nam

Chỉ số là một công cụ đo lường hữu ích nhưng đâu đó đang bị lạm dụng. Cần nhìn nhận rõ cách thế giới và Việt Nam đang áp dụng chỉ số này đối với các vị trí khác nhau.

Đối với ứng viên chức danh giáo sư, phó giáo sư:

Trên thế giới, các nền giáo dục phát triển (Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản) coi các chỉ số về số bài báo, số lượt trích dẫn... là một điểm cộng tham chiếu, hoàn toàn không phải là tiêu chuẩn cứng mang tính quyết định. Một nhà khoa học có thể có các chỉ số này thấp, nhưng lại sở hữu một bằng sáng chế đột phá làm thay đổi mô hình sản xuất, hoặc có tác động lớn đến chính sách vĩ mô, hoàn toàn có thể được bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư. Ngược lại, việc sùng bái số lượng bài báo và trích dẫn đang bị giới hàn lâm quốc tế tẩy chay (tiêu biểu là Tuyên bố DORA - San Francisco “Declaration on Research Assessment”), vì nó khuyến khích việc “chạy” theo số lượng bài báo, các chiêu trò trích dẫn chéo và bỏ qua các nghiên cứu có độ rủi ro cao nhưng lại hàm chứa tính đột phá lớn.

Tại Việt Nam, theo quy định hiện hành, các chỉ số về số bài báo và điểm của mỗi bài phải là một tiêu chuẩn định lượng bắt buộc dùng để loại ứng viên. Quyết định 37/2018/QĐ-TTg có đưa vào một thông tin tham khảo trong hồ sơ là bản nhận xét kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học của người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học đối với ứng viên (Mẫu số 02 yêu cầu nhận xét năng lực, chỉ số nếu có), nhưng còn mang nặng tình hình thức, hoàn tất thủ tục, nên hầu như ứng viên nào cũng hoàn hảo. Vậy nên, hệ thống của chúng ta hiện nay vẫn nặng về việc đếm số bài báo và “điểm quy đổi” hơn là nhìn nhận tác động thực chất của chỉ số này như thế nào đến sản xuất và đời sống, đến quốc kế dân sinh.

Đối với thành viên Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Hội đồng Giáo sư Cơ sở, Hội đồng Giáo sư Nhà nước:

Trên thế giới hầu như không dùng một ngưỡng cụ thể nào đối với các thành viên Hội đồng khoa học các cấp. Những người được chọn ngồi ghế hội đồng thường được đánh giá qua tầm nhìn vĩ mô, khả năng lãnh đạo học thuật, sự công tâm và uy tín cá nhân trong cộng đồng khoa học (thường dựa vào dư luận xã hội, ý kiến của cộng đồng khoa học và chỉ số H-Index trên WoS).

Tại Việt Nam, đối với các thành viên Hội đồng Giáo sư các cấp (cơ sở, ngành/liên ngành, Nhà nước), quy định hiện hành yêu cầu thành viên phải có uy tín chuyên môn khoa học cao, có kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế có uy tín hoặc xuất bản ở nhà xuất bản có uy tín trong 05 năm liền kề với thời điểm được bổ nhiệm. Tuy nhiên, văn bản pháp quy không hề ấn định một con số cụ thể nào làm rào cản pháp lý, chưa dùng chỉ số uy tín hàng đầu hiện nay của giới học thuật quốc tế là H-Index của WoS hay Scopus để “đo” tầm cỡ của thành viên Hội đồng cũng như các ứng viên. Tức là chỉ đo lường được “số lượng” và một phần “độ phổ biến” của các công bố trong quá khứ, nó không đo được tầm vóc tư duy, đạo đức học thuật hay tầm nhìn chiến lược của một người. Việc chỉ dùng bộ lọc “đo đếm” cứng nhắc sẽ làm thui chột sự đa dạng của học thuật; nếu chúng ta vẫn duy trì việc sử dụng “số lượng bài báo quốc tế” làm thước đo độc tôn để đánh giá năng lực, phân bổ ngân sách hay xét duyệt chức danh thì sẽ tạo ra sự mất công bằng.

Khi Hội đồng trường không còn, vai trò của Hội đồng Khoa học và Đào tạo tại các đại học phải được thực chất hóa, phải được trả lại quyền chuyên môn, thể hiện qua:

Hội đồng chuyên gia thực quyền: Thành viên hội đồng phải là những người có uy tín khoa học cao nhất, không nhất thiết phải là người giữ chức vụ quản lý;

Cơ chế phản biện kín: Để tránh tình trạng "cả nể" hoặc cục bộ địa phương, cần có cơ chế để các đại học gửi hồ sơ ứng viên cho các chuyên gia độc lập (trong và ngoài nước) đánh giá kín.

Đây là cách mà các đại học hàng đầu thế giới vẫn làm để đảm bảo chất lượng mà không cần một "Hội đồng Giáo sư Nhà nước" hay Hội đồng Giáo sư ngành nào can thiệp, chỉ bảo.

Trọng số đánh giá: Tôn trọng sự đa dạng học thuật

Để Hội đồng Khoa học và Đào tạo thực sự công tâm và tạo ra sự cộng hưởng thì cơ chế trọng số đánh giá không thể cào bằng mà phải dựa trên nguyên tắc “đa luồng đánh giá” (Multi-Track Evaluation). Dưới đây là mô hình thiết kế trọng số mà các nhà hoạch định chính sách có thể tham khảo:

Xây dựng bộ tiêu chuẩn phân ngạch (Career Tracks): Hội đồng Khoa học và Đào tạo cần ban hành quy chế chia nhân sự và hồ sơ đánh giá thành các ngạch riêng biệt.

Mỗi ngạch có một hệ trọng số (KPI) hoàn toàn khác nhau, ví dụ:

Ngạch nghiên cứu hàn lâm: Trọng số lớn nhất (70-80%) đặt vào các công bố quốc tế uy tín (Q1, Q2), sách chuyên khảo xuất bản ở các nhà xuất bản quốc tế uy tín, chỉ số trích dẫn (thước đo này phát huy thế mạnh của khối giảng viên đại học và các viện nghiên cứu khoa học cơ bản).

Ngạch nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao: Trọng số được tính theo: Bằng độc quyền sáng chế.

Ngạch tư vấn chính sách: Đánh giá dựa trên việc chủ trì các đề án cấp quốc gia, hợp tác quốc tế, những báo cáo tư vấn dẫn đến sự thay đổi trong chính sách quản lý nhà nước (như chính sách giáo dục đại học, chính sách khoa học và công nghệ, chính sách tam nông).

Thiết lập “Tỷ giá quy đổi” học thuật: Sự công bằng trong Hội đồng Khoa học và Đào tạo thể hiện ở việc các thành viên thống nhất được một bảng quy đổi thực chất. Thay vì tranh cãi xem ai hơn ai, Hội đồng cần quy định rõ việc có một bằng độc quyền sáng chế, một giải pháp hữu ích, một tiến bộ kĩ thuật có tầm ảnh hưởng đến mức nào đó về kinh tế, về tác động xã hội, thì được tính điểm tương đương với bao nhiêu bài báo Q1/Q2? Khi “ngôn ngữ thực tiễn” được dịch sang “ngôn ngữ học thuật” thông qua bảng quy đổi này, các nhà nghiên cứu đến từ khối viện sẽ có vị thế bình đẳng với các thành viên thuộc khối trường khi bỏ phiếu.

Vận hành theo nguyên tắc “Bồi thẩm đoàn chuyên môn”: Khi bỏ phiếu đánh giá một đề tài hay một chức danh, Hội đồng Khoa học và Đào tạo không nên gộp chung toàn bộ thành viên để đếm phiếu cơ học. Nếu hồ sơ thuộc ngạch ứng dụng/chuyển giao, Tiểu ban Ứng dụng (gồm những người có kinh nghiệm thực chiến từ các viện và doanh nghiệp) phải là người có tiếng nói trọng yếu và lập báo cáo thẩm định.

Các thành viên thuộc ngạch hàn lâm sẽ bỏ phiếu dựa trên báo cáo thẩm định đó, nhằm tránh tình trạng dùng tư duy “hàn lâm” để đánh trượt một công trình “ứng dụng” chỉ vì nó thiếu bài báo Scopus.

Đưa yếu tố “Tác động kinh tế - xã hội” vào quyền phủ quyết

Trong cơ cấu của Hội đồng Khoa học và Đào tạo, bên cạnh các giáo sư hàn lâm, nhất thiết phải có các chuyên gia độc lập đến từ khối doanh nghiệp hoặc các cơ quan quản lý thực tiễn. Những thành viên này sẽ đóng vai trò cân bằng, bảo vệ các nghiên cứu có tính ứng dụng cao nhưng không dễ viết thành các bài báo quốc tế.

Xây dựng một Hội đồng Khoa học và Đào tạo tôn trọng sự khác biệt của các ngạch nghiên cứu chính là chìa khóa để giữ chân những chuyên gia ứng dụng giỏi nhất sau khi sáp nhập viện vào trường cũng như khi mời gọi các “viện sĩ” tham gia Hội đồng Khoa học và Đào tạo của nhà trường.

Việc đổi mới công tác xét, công nhận và bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư tại Việt Nam không đơn thuần là sự thay đổi về mặt câu chữ trong các văn bản pháp quy, mà đòi hỏi một cuộc cách mạng thực sự về tư duy quản trị đại học. Đã đến lúc chúng ta phải mạnh dạn rũ bỏ tư duy “phẩm hàm trọn đời”, tách bạch rõ ràng giữa học vị chứng nhận trình độ với chức danh gắn liền vị trí việc làm. Trả lại quyền tự chủ bổ nhiệm cho các cơ sở giáo dục đại học chính là con đường tất yếu để đại học Việt Nam hội nhập với dòng chảy học thuật toàn cầu.

Tuy nhiên, tự chủ không đồng nghĩa với tự trị. Việc giao quyền tối thượng về nhân sự học thuật cho các trường phải được đặt trên một bệ đỡ vững chắc của trách nhiệm giải trình và các thiết chế kiểm soát quyền lực chéo. Đó là sự giám sát nghiêm khắc từ Nhà nước thông qua hậu kiểm, sự bình duyệt khách quan từ cộng đồng học thuật độc lập, sự minh bạch tuyệt đối trước xã hội, và cơ chế đối trọng nội bộ tinh tế giữa người đứng đầu và Hội đồng Khoa học và Đào tạo.

Một hệ thống xét duyệt hiệu quả không chỉ đong đếm những con số bài báo quốc tế một cách cơ học, mà phải tôn trọng sự đa dạng của các ngạch nghiên cứu, đánh giá đúng những đóng góp thực chất của nhà khoa học đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Chỉ khi thiết lập được một môi trường học thuật thực chất, công tâm và minh bạch, loại trừ sự nể nang, cục bộ, chúng ta mới có thể xây dựng được một đội ngũ giáo sư, phó giáo sư đúng tầm, đủ tài và tâm huyết để gánh vác sứ mệnh chấn hưng nền giáo dục đại học nước nhà trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Kiến nghị

Để có thể thay đổi tư duy quản lý từ “tập trung, áp đặt” sang “kiến tạo, giám sát”, để những định hướng trên không chỉ dừng lại ở mức độ thảo luận, chúng tôi xin được gửi vài kiến nghị đến các cơ quan hoạch định chính sách:

Mạnh dạn “cởi trói” tư duy quản lý: Cần sớm luật hóa việc chuyển đổi chức danh giáo sư, phó giáo sư từ một loại “phẩm hàm” do Nhà nước công nhận sang “vị trí việc làm” gắn với quyền tự chủ nhân sự của các trường đại học và trách nhiệm cá nhân. Nhà nước nên rút về vai trò là người quản lý khung tiêu chuẩn tối thiểu và kiểm soát quy trình, thay vì trực tiếp tham gia xét duyệt từng hồ sơ cụ thể.

Xây dựng cơ chế “hậu kiểm” nghiêm cẩn: Thay thế cơ chế “tiền kiểm” hiện nay bằng hệ thống thanh tra ngẫu nhiên và định kỳ. Cần có những chế tài thực sự mạnh mẽ, thậm chí là tước quyền tự chủ và hạ bậc xếp hạng đối với các cơ sở giáo dục có sai phạm về liêm chính học thuật hoặc buông lỏng chuẩn mực bổ nhiệm để làm đẹp hồ sơ xếp hạng và tuyển sinh.

Thay đổi thước đo giá trị học thuật: Đã đến lúc cần chấm dứt việc “sùng bái” các chỉ số định lượng cơ học và đếm bài báo quốc tế một cách cực đoan. Chính sách cần tạo không gian và trọng số tương xứng cho những nghiên cứu ứng dụng, các giải pháp công nghệ và tư vấn chính sách có tác động trực tiếp đến sự phát triển của quốc gia, đến cuộc sống của người dân và sự hưng thịnh của đất nước.

Chỉ khi những “nút thắt” về pháp lý này được tháo gỡ, giáo dục đại học Việt Nam mới thực sự giải phóng được nguồn lực trí tuệ to lớn, tạo tiền đề để các trường đại học trở thành những thực thể tự chủ, sáng tạo và đầy trách nhiệm trong kỷ nguyên mới.

Trần Đức Viên