Bò sữa Holstein–Friesian là giống bò có năng suất sữa cao, tuy nhiên thường gặp các rối loạn sinh sản, trong đó bệnh u nang buồng trứng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây giảm khả năng sinh sản. Nhằm làm rõ cơ sở khoa học của bệnh lý này, đề tài nghiên cứu đã tập trung phân tích đặc điểm hình thái và cấu trúc vi thể của buồng trứng và ống dẫn trứng, đồng thời đánh giá sự biến đổi tế bào thể vàng trong các giai đoạn phát triển khác nhau.
Kết quả cho thấy, phễu hứng trứng (infundibulum) và bóng ống dẫn trứng (ampulla) có sự biến đổi rõ rệt về hình thái và mô học giữa các pha của chu kỳ sinh dục. Trong điều kiện sinh lý bình thường, pha nang trứng đặc trưng bởi số lượng nếp gấp niêm mạc lớn, chiều dài và độ dày nếp gấp tăng, biểu mô cao và giàu tế bào có lông chuyển, phản ánh vai trò hỗ trợ bắt giữ và vận chuyển noãn. Ngược lại, pha thể vàng ghi nhận hoạt động tiết tăng cường với sự hiện diện rõ của các tế bào tiết và phản ứng dương tính mạnh với thuốc nhuộm PAS, phù hợp với chức năng nuôi dưỡng hợp tử và hỗ trợ quá trình thụ tinh.
Trong trường hợp bò mắc bệnh u nang buồng trứng, cấu trúc ống dẫn trứng bị suy giảm đáng kể. Số lượng và kích thước các nếp gấp niêm mạc giảm, biểu mô thấp, số lượng lông chuyển giảm và hoạt động tiết glycoprotein bị rối loạn. Những biến đổi này cho thấy môi trường trong ống dẫn trứng bị ảnh hưởng theo hướng bất lợi, có thể làm giảm khả năng vận chuyển hợp tử, cản trở quá trình thụ tinh và phát triển sớm của phôi.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng ghi nhận sự thay đổi rõ rệt về số lượng tế bào thể vàng nhỏ (SLCs) và tế bào thể vàng lớn (LLCs) theo từng giai đoạn phát triển của thể vàng. Giai đoạn đầu sau rụng trứng, SLCs chiếm ưu thế; đến pha thể vàng thành thục, LLCs tăng mạnh và đạt cân bằng tương đối với SLCs, tương ứng với giai đoạn hoạt động tiết progesterone cao nhất. Ở pha thoái hóa, số lượng LLCs giảm mạnh trong khi SLCs có xu hướng ổn định hơn, phản ánh sự khác biệt về chức năng và mức độ nhạy cảm với các tín hiệu nội tiết.
Nhìn chung, nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng khoa học về sự biến đổi đồng thời về cấu trúc và chức năng của buồng trứng và ống dẫn trứng ở bò mắc bệnh u nang buồng trứng. Ngoài nguyên nhân chính là hiện tượng không rụng trứng, những thay đổi bất lợi trong vi môi trường ống dẫn trứng cũng có thể là yếu tố góp phần làm giảm khả năng sinh sản ở bò sữa. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng chẩn đoán, điều trị và cải thiện hiệu quả sinh sản trong chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam.
    |
 |
| Hình 1. Đặc điểm mô học của phễu hứng trứng bò ở pha nang trứng, pha thể vàng và trong trường hợp u nang buồng trứng, nhuộm Hematoxylin – Eosin (H&E) |
(A) Hình ảnh tổng quát của phễu hứng trứng cho thấy niêm mạc gấp nếp nhiều, với các nếp gấp chính nổi bật (mũi tên) và nếp gấp phụ (đầu mũi tên). (B) Biểu mô phễu hứng trứng pha thể vàng gồm các tế bào có lông chuyển sẫm màu với lông chuyển rõ ràng (mũi tên trắng), tế bào có lông chuyển sáng màu với lông chuyển thưa hoặc không có (dấu sao), và tế bào hình chốt (peg cells) nhỏ, hẹp, kéo dài (mũi tên đen). (C) Biểu mô phễu hứng trứng pha nang trứng đặc trưng bởi sự ưu thế của tế bào có lông chuyển (mũi tên trắng) và không ghi nhận hoạt động tiết rõ rệt. Lưu ý sự hiện diện của tế bào có lông chuyển sáng màu (dấu sao). (D) Biểu mô phễu hứng trứng trong trường hợp u nang buồng trứng được lót bởi các tế bào biểu mô trụ cao, nhân nằm cực đáy và số lượng lông chuyển giảm rõ rệt (mũi tên trắng). Có hiện diện tế bào tiết nhưng không có các cấu trúc chuyên biệt rõ ở cực đỉnh.
    |
 |
| Hình 2. Phân tích hóa mô học của biểu mô đoạn bóng ống dẫn trứng pha nang trứng, pha thể vàng và trong trường hợp u nang buồng trứng |
(A) Các tế bào tiết pha thể vàng cho phản ứng PAS dương tính mạnh (mũi tên đen). (B) Các tế bào tiết pha nang trứng cho phản ứng PAS dương tính mức trung bình (mũi tên trắng). (C) Trong trường hợp u nang buồng trứng, các tế bào tiết biểu hiện kiểu nhuộm PAS không đồng đều, thường giảm cường độ hoặc phân bố không đều (dấu sao).
TS. BÙI VĂN DŨNG - KHOA THÚ Y
BAN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ