Ngày 15/01/2015, tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã diễn ra buổi bảo vệ cấp cơ sở nhiệm vụ môi trường “Xây dựng thí điểm mô hình bảo vệ môi trường khu vực đất cát biển và đất xám khô hạn để ứng phó với biến đổi khí hậu phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững vùng Duyên hải Nam Trung Bộ”, do TS. Nguyễn Thu Hà làm chủ nhiệm. Buổi bảo vệ do PGS.TS. Trần Trọng Phương chủ trì.
    |
 |
| PGS.TS. Trần Trọng Phương chủ tịch hội đồng phát biểu khai mạc |
Phát biểu khai mạc Hội đồng, PGS.TS. Trần Trọng Phương nhấn mạnh thông điệp xuyên suốt của nhiệm vụ: công tác bảo vệ môi trường ở cấp cơ sở cần bắt đầu từ bảo vệ và phục hồi đất – nền tảng quyết định năng suất, sinh kế và khả năng chống chịu của hệ thống nông nghiệp trước tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu.
Tính cấp thiết của nhiệm vụ được làm rõ thông qua những số liệu đáng lưu ý. Đến năm 2019, khoảng 61,83% diện tích đất sản xuất nông nghiệp vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đã bị suy thoái; trên 200.000 ha có nguy cơ hoang mạc hóa, sa mạc hóa; tình trạng khô hạn kéo dài từ 5–8 tháng mỗi năm. Đây không chỉ là hiện tượng thiếu nước theo mùa mà còn là quá trình suy giảm chất lượng đất kéo dài, thể hiện ở tình trạng đất bị nén chặt, khả năng giữ nước kém, hàm lượng hữu cơ suy giảm và dinh dưỡng đất bị suy kiệt, dẫn đến chi phí canh tác tăng cao trong khi năng suất không ổn định.
Một điểm nổi bật của nhiệm vụ là cách tiếp cận khoa học gắn chặt với thực tiễn sản xuất. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra, khảo sát với quy mô tương đối lớn, gồm 360 phiếu điều tra nông hộ và 360 mẫu đất, nhằm phản ánh đầy đủ hiện trạng canh tác và xây dựng cơ sở dữ liệu nền về chất lượng đất cát biển và đất xám khô hạn. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ lựa chọn hướng tiếp cận dựa vào cộng đồng, coi nông hộ là chủ thể trung tâm của quá trình thay đổi, trong khi chính quyền cơ sở đóng vai trò tổ chức, hỗ trợ và nhân rộng mô hình.
Từ kết quả điều tra, phân tích đất và các mô hình thực nghiệm, nhiệm vụ đã đề xuất gói giải pháp kỹ thuật tổng hợp, bao gồm: tăng cường sử dụng phân hữu cơ; che phủ đất bằng phụ phẩm nông nghiệp đã qua xử lý bằng chế phẩm vi sinh; xen canh cây họ đậu; kết hợp tưới nước tiết kiệm và bón phân khoáng cân đối. Các biện pháp này không chỉ giúp nâng cao khả năng giữ ẩm và cải thiện độ phì đất mà còn góp phần cải thiện cấu trúc đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ và phục hồi hoạt tính vi sinh vật đất – những yếu tố then chốt quyết định tính bền vững của hệ thống canh tác trong điều kiện khô hạn kéo dài.
Hiệu quả của mô hình được minh chứng rõ nét bằng các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật. Đối với cây trồng ngắn ngày, năng suất ngô tăng 16,5%, lạc tăng 12%; lợi nhuận tương ứng tăng 15,8% và 17,1%. Với cây trồng dài ngày, năng suất xoài tăng 11,9%, táo tăng 15,8%; lợi nhuận tăng lần lượt 8,1% và 14,9%. Bên cạnh hiệu quả kinh tế, mô hình còn mang lại lợi ích môi trường rõ rệt thông qua việc cải thiện độ ẩm đất, duy trì hàm lượng hữu cơ và gia tăng mật độ vi sinh vật, qua đó nâng cao khả năng chống chịu của cây trồng.
Từ góc độ bảo vệ môi trường ở cấp cơ sở, giá trị nổi bật của nhiệm vụ là đã cụ thể hóa các định hướng chung về bảo vệ môi trường đất thành hệ thống giải pháp canh tác khả thi, có thể tổ chức thực hiện, giám sát – đánh giá bằng các chỉ tiêu cụ thể và linh hoạt nhân rộng theo điều kiện từng địa phương. Đồng thời, nhiệm vụ cũng góp phần đặt nền móng cho cách tiếp cận hiện đại về “sức khỏe đất” (soil health), hướng tới duy trì và cải thiện đồng thời các chức năng vật lý, hóa học và sinh học của đất.
Trên cơ sở dữ liệu nền, mô hình thực nghiệm đã được kiểm chứng, cùng hệ thống hướng dẫn kỹ thuật và hiệu quả kinh tế được lượng hóa, chính quyền cấp xã có thể triển khai theo hướng: tổ chức tập huấn và chuyển giao thông qua mô hình trình diễn; chuẩn hóa gói kỹ thuật tối thiểu theo từng nhóm cây trồng và loại đất; đồng thời thiết lập cơ chế theo dõi một số chỉ tiêu sức khỏe đất như độ ẩm và khả năng giữ nước, hàm lượng chất hữu cơ, pH, CEC, mức độ nén chặt – độ tơi xốp và hoạt tính vi sinh vật đất. Việc theo dõi định kỳ các chỉ tiêu này giúp địa phương kịp thời điều chỉnh biện pháp canh tác, ưu tiên các giải pháp tăng hữu cơ, che phủ và đa dạng hóa cây trồng nhằm phục hồi độ phì, giảm nguy cơ suy thoái và nâng cao tính bền vững của hệ thống sản xuất.
Kết thúc buổi bảo vệ cấp cơ sở, nhóm thực hiện đã thống nhất định hướng triển khai trước mắt tại các tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng, làm cơ sở thí điểm để từng bước nhân rộng ra các khu vực có điều kiện khô hạn tương tự. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đặt ra nhiều thách thức lâu dài, đây được xem là hướng tiếp cận phù hợp: bắt đầu từ cấp cơ sở, bắt đầu từ đất, và bắt đầu bằng những giải pháp đồng bộ, thiết thực nhằm vừa bảo đảm sản xuất trước mắt, vừa bền vững cho tương lai.
TS. Nguyễn Thu Hà, Khoa Tài nguyên và Môi trường