Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước đòi hỏi phải chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên sang mô hình phát triển dựa vào hiệu quả, công nghệ và giá trị sinh thái. Trong tiến trình đó, năng suất không thể chỉ được đo bằng sản lượng, mà phải được nhìn nhận dưới lăng kính “TFP xanh” (năng suất nhân tố tổng hợp xanh).

Tuy nhiên, trong khi thực tiễn nông nghiệp tuần hoàn đã bắt đầu chuyển động, thể chế về đất đai và tín dụng vẫn chậm mở đường, làm cho một phần nguồn lực đầu tư bị “giam” lại, cản trở quá trình chuyển sang nông nghiệp sinh thái, bền vững.

leftcenterrightdel
 Việt Nam trở thành hình mẫu trong phát triển nông nghiệp xanh với đề án 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh_Ảnh: TTXVN

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và yêu cầu hình thành “TFP xanh”

Trong 4 thập niên đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, trong đó có sự gia tăng mạnh mẽ về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, tăng trưởng nông nghiệp trong một thời gian dài vẫn chủ yếu dựa vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên đất đai, nguồn nước.

Mô hình tăng trưởng “nâu” này đã đóng vai trò nhất định trong từng giai đoạn phát triển. Tuy nhiên, mô hình đó cũng đang bộc lộ những hệ lụy ngày càng rõ về môi trường và sinh thái. Vì vậy, chuyển đổi từ nền kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn là một hướng đi cần thiết để phát triển nông nghiệp bền vững, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu.

Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” chỉ rõ yêu cầu phát triển nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh.

Đó không chỉ là yêu cầu về kinh tế và sinh thái, mà còn là định hướng chính trị quan trọng đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn mới.

Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, ban hành các chiến lược, kế hoạch và cơ chế thực hiện rõ ràng, tạo điều kiện để các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân yên tâm tổ chức thực hiện trong thực tiễn.

leftcenterrightdel
 Nuôi tôm tuần hoàn dựa vào rừng ngập mặn, không xả thải ra môi trường ở các vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long_Ảnh: TTXVN

Trong bối cảnh mới, việc chuyển đổi nền kinh tế nông nghiệp theo hướng “TFP xanh” là yêu cầu đặt ra. Đây có thể được hiểu là trạng thái năng suất đạt được trên cơ sở ứng dụng các nguyên lý của sinh thái học nông nghiệp và kinh tế tuần hoàn vào thực tiễn, nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực, nâng cao giá trị gia tăng và giảm tác động tiêu cực đến môi trường. Tuy nhiên, để “TFP xanh” có thể hình thành và lan tỏa trong thực tiễn, cần có hành lang pháp lý phù hợp.

Những “điểm nghẽn” thể chế

Trong nông nghiệp, các hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) là những chủ thể năng động trong quá trình chuyển đổi theo hướng sinh thái, tuần hoàn. Tuy nhiên, quá trình này đang gặp phải một số “nút thắt” pháp lý cần sớm được tháo gỡ.

Trước hết là sự chưa thống nhất trong định danh tài nguyên và cách tiếp cận quản lý. Bản chất của nông nghiệp tuần hoàn là tổ chức chu trình vật chất, năng lượng và sinh học theo hướng khép kín.

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật, nhất là một số quy định dưới luật về môi trường và tiêu chuẩn vật tư, ở một số trường hợp vẫn tiếp cận theo tư duy tuyến tính, coi phụ phẩm nông nghiệp chủ yếu là “chất thải” cần kiểm soát, thay vì nhìn nhận đó còn có thể là “tài nguyên thứ cấp” có giá trị.

Việc đưa phân bón hữu cơ từ phụ phẩm vào lưu hành thương mại còn gặp quy trình khảo nghiệm kéo dài, làm giảm động lực đầu tư và đổi mới của nhiều cơ sở sản xuất.

Một điểm nghẽn khác là “vốn chết” trên đất nông nghiệp và những hạn chế trong tiếp cận tín dụng. Chuyển đổi sinh thái đòi hỏi nguồn đầu tư lớn cho hạ tầng, như nhà màng, hệ thống vi sinh, điện sinh khối...

Tuy nhiên, theo PGS, TS Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) - một nút thắt pháp lý hiện nay là cơ chế xác nhận và danh mục phân loại xanh vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, làm cho tín dụng xanh chưa phát huy đầy đủ vai trò.

Dù Luật Đất đai đã có những sửa đổi quan trọng, nhưng trên thực tế vẫn cần có cơ chế cụ thể, thông thoáng hơn để ghi nhận một số hạ tầng công nghệ cao là tài sản gắn liền với đất nông nghiệp. Khi các công trình này chưa được định danh và định giá phù hợp, khả năng sử dụng làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng còn hạn chế, làm cho một phần vốn đầu tư bị “đóng lại” trong quá trình sản xuất.

Theo phân tích của PGS, TS Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng - nếu không sớm nghiên cứu cơ chế cho vay tín chấp dựa trên dữ liệu chuỗi giá trị và thiết lập quỹ bảo lãnh tín dụng xanh để chia sẻ rủi ro, nguồn vốn xanh sẽ khó đi vào khu vực sản xuất nông nghiệp.

leftcenterrightdel
 Ngành nông nghiệp và môi trường tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và ứng dụng công nghệ thông minh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường_Ảnh minh họa: TTXVN

Một số kiến nghị chính sách nhằm khơi thông nguồn lực cho nông nghiệp tuần hoàn

Để khắc phục tình trạng thực tiễn phát triển đi trước trong khi chính sách, pháp luật chậm được hoàn thiện, hệ thống quản lý nhà nước cần tiếp tục rà soát, bổ sung cơ chế, chính sách phù hợp; đồng thời có thể nghiên cứu áp dụng một số cơ chế thí điểm đối với lĩnh vực này.

Một là, hoàn thiện cách tiếp cận trong định danh “tài nguyên” và khơi thông thị trường tuần hoàn. Cần nghiên cứu xây dựng cơ chế pháp lý phù hợp đối với các sản phẩm thứ cấp từ nông nghiệp tuần hoàn.

Trong đó, cần phân biệt rõ đặc điểm, quy mô, tính chất của từng loại hình sản xuất để có quy định quản lý và chi phí tuân thủ phù hợp, tránh áp dụng máy móc cùng một khuôn khổ đối với các mô hình rất khác nhau.

Hai là, khơi thông “vốn chết” thông qua việc hoàn thiện cơ chế pháp lý về tài sản trên đất. Các bộ, ngành liên quan cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về quy trình định giá và ghi nhận quyền sở hữu đối với công trình hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp và du lịch canh nông trên đất nông nghiệp, tạo cơ sở pháp lý để các tài sản này có thể tham gia quan hệ tín dụng theo quy định của pháp luật.

Ba là, nghiên cứu cơ chế phối hợp nhiều chủ thể trong thẩm định tín dụng xanh. Thực tiễn cho thấy, một trong những nguyên nhân làm cho tín dụng xanh phát triển chậm là sự thiếu đồng bộ giữa yêu cầu thẩm định tín dụng với đặc thù kỹ thuật, sinh thái của mô hình nông nghiệp tuần hoàn.

Vì vậy, cần phát huy vai trò của các trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức trung gian độc lập trong tư vấn, thẩm định, lượng hóa hiệu quả môi trường và hỗ trợ giám sát kỹ thuật.

Có thể nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa ngân hàng, nhà khoa học và hợp tác xã/doanh nghiệp như một mô hình hỗ trợ thẩm định phù hợp đối với tín dụng xanh trong nông nghiệp./.

GS, TS Trần Đức Viên, Nhà giáo Nhân dân

https://hssk.tapchicongsan.org.vn/