Tóm tắt
Kinh doanh tiêu thụ sản phẩm nghề, nghề truyền thống gắn phát triển cộng đồng là một hướng đi bền vững, mang lại nhiều lợi ích. Nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng kinh doanh tiêu thụ sản phẩm nghề, nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Tuyên Quang, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động này. Nghiên cứu khảo sát 90 mẫu tại hai đơn vị hành chính cấp huyện cũ là Bắc Quang và Yên Minh, tỉnh Hà Giang cũ (nay thuộc tỉnh Tuyên Quang). Kết quả cho thấy hoạt động tiêu thụ gắn với du lịch còn nhiều hạn chế kỹ năng về quản lý tài chính, ghi chép sổ sách, các kỹ năng chuyên sâu trong bán hàng, lúng túng trong các vấn đề về nhãn mác, thông tin sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, xây dựng câu chuyện sản phẩm, liên kết dọc hoạt động sản xuất và tiêu thụ còn mờ nhạt. Để khắc phục được tình trạng này ngoài sự cố gắng của mỗi hộ cần sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và các tổ chức.
Từ khoá: Tiêu thụ sản phẩm, sản phẩm nghề, nghề truyền thống, du lịch cộng đồng.
1. Đặt vấn đề
Phát triển kinh tế kết hợp các sản phẩm nghề, nghề truyền thống với du lịch là là giải pháp phát huy tiềm năng và thế mạnh của mỗi địa phương (Gia Ngân, 2022). Du lịch làng nghề là một loại hình du lịch cộng đồng, du lịch văn hoá tổng hợp thông qua hình thức đưa du khách tới tham quan, cảm nhận các giá trị văn hóa và mua sắm những hàng hóa đặc trưng của địa phương. Khi các địa phương khéo léo kết hợp và phát triển thì du lịch làng nghề sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp “đánh thức” các tiềm năng nội tại (Đinh Luyện, 2023). Địa bàn tỉnh Hà Giang cũ (nay thuộc tỉnh Tuyên Quang) là một trong những địa phương có nhiều thế mạnh để phát triển du lịch cộng đồng với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và bản sắc văn hóa đặc trưng của 19 dân tộc cùng sinh sống (Hà Giang, 2025). Tuyên Quang (Hà Giang cũ) ẩn chứa những vẻ đẹp lôi cuốn du khách đến khám phá như Cao nguyên đá Đồng Văn, Cột cờ Lũng Cú, Đèo Mã Pí Lèng, Cổng trời Quản Bạ, hệ thống ruộng bậc thang, những cánh đồng hoa tam giác mạch,… cùng với văn hóa đặc sắc nơi đây như chợ tình Khâu Vai thơ mộng, chợ phiên Mèo Vạc, làng dân tộc H’mong, Lô Lô, Dao…; các sản phẩm nghề truyền thống như sản phẩm dệt lanh, dệt thổ cẩm, chạm bạc, làm khèn, giấy bản, đan lát (Anh Tú, 2023) Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Hà Giang cũ đã có nhiều nghị quyết, kế hoạch về bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống gắn, nghề truyền thống với phát triển du lịch như Quyết định 1324/QĐ-UBND ngày 05/07/2021 về Bộ tiêu chí “Làng văn hóa du lịch tiêu biểu gắn với OCOP”; Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 20/08/2021 về phát triển du lịch Hà Giang giai đoạn 2021 – 2025, Nghị quyết số 10/2023/NQ-HĐND ngày 15/07/2023 về quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch đến năm 2028 trên địa bàn tỉnh Hà Giang, Quyết định số 500/QĐ-UBND ngày 22/03/2018 phê duyệt Chương trình OCOP Hà Giang giai đoạn 2018–2020, định hướng 2030. Vì vậy, bài viết tập trung phân tích tình hình kinh doanh tiêu thụ sản phẩm nghề, nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng của tỉnh Tuyên Quang để đưa ra một số khuyến nghị thúc đẩy hoạt động này.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thu thập thông tin thứ cấp về kinh doanh tiêu thụ sản phẩm nghề, nghề truyền thống ở các địa bàn khó khăn kết hợp với phát triển du lịch công đồng qua báo cáo phát triển kinh tế xã hội của các địa phương và nghiên cứu tổng hợp các thông tin từ các website chính thống, sách báo, tạp chí, niên giám thống kê. Dữ liệu sơ cấp thực hiện tại hai huyện Bắc Quang và Yên Minh, tỉnh Hà Giang cũ trong tháng 5 năm 2025. Mỗi huyện điều tra 45 hộ, sử dụng bảng hỏi được kết cấu sẵn. Phiếu khảo sát sử dụng thang đo lirkert 5 mức độ được sử dụng để đánh giá với. Mức 1 từ 1- 1,80: Rất không đồng ý; 1; 81 đến 2,60. Không đồng ý; 2,61- 3,40. Bình thường; 3,41 0 4,2. Đồng ý và 4,21-5. Rất đồng ý. Ngoài ra, kết quả khảo sát cũng dựa trên kết quả tọa đàm với lãnh đạo cấp huyện, cấp xã và Hội đồng quản trị HTX nhằm thảo luận kỹ hơn về các nội dung liên quan tới thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức cũng như giải pháp thúc đẩy kinh doanh tiêu thụ các sản phẩm nghề, nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng của người dân.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Tỉnh Hà Giang cũ có nhiều nghề, nghề truyền thống phong phú và đặc sắc gắn với văn hóa của các dân tộc thiểu số, nổi bật là nghề dệt lanh, dệt thổ cẩm, làm giấy bản, chạm bạc, chế tác khèn, và làm quẩy tấu… Các nghề truyền thống này không chỉ tạo ra sản phẩm phục vụ đời sống mà còn là di sản văn hóa phi vật thể quý giá, đang được bảo tồn và phát huy thông qua việc kết hợp với phát triển du lịch. Bên cạnh đó, làng nghề, nghề truyền thống, hay làng nghề mới như làng nghề hoa cây cảnh thôn Mỹ Tân, Bắc Quang, hay các hoạt động du lịch cộng đồng ở xã Du Già cũng tạo nên những nét độc đáo của Hà Giang.
Đối với nghề làm giấy bản của người Dao, với những nguyên liệu từ thiên nhiên như vầu non, dây leo, với sự kiên trì, tỉ mỉ của người thợ trong các khâu ủ vôi, tráng, phơi phóng và bóc tách, những tờ giấy bản mỏng tanh được tạo ra. Đây là sản phẩm thường dùng cho nhu cầu hoạt động tâm linh trong các nghi lễ Cắp Sắc và cầu an của người dân tộc. Đây cũng là một sản phẩm an toàn có tiềm năng phát triển theo hướng hàng hoá phục vụ khách du lịch. Hiện nay có khoảng 90 hộ làm giấy bản tại thôn Thanh Sơn, thị trấn Bắc Quang. Trung bình mỗi hộ có 2 lao động thực hiện hoạt động này.
Để phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch cộng đồng, thôn Thanh Sơn xây dựng các mô hình trình diễn cho khách tham quan, mở các lớp truyền nghề do các nghệ nhân đứng lớp. Làng nghề hoa cây cảnh thôn Mỹ Tân được công nhận làng nghề theo Quyết định số 92/QĐ-UBND tỉnh Hà Giang cũ ngày 18/01/2022. Tính đến năm 2025, Hợp tác xã Hoa Cây cảnh thôn Mỹ Tân có 64 hộ tham gia với các cây trồng chính là trồng hoa, cây cảnh (hoa mẫu đơn, lay ơn, hoa cúc, hoa hồng, hoa trà, hoa lan...; Cây đào, mộc hương, tùng la hán, tùng kim, tường vi đỏ...). Cây chủ lực là cây đào cảnh, cây mộc hương, tùng la hán. Ngoài định hướng bán hoa cây cảnh, Hợp tác xã (HTX) cũng mong muốn phát triển thành vùng trồng hoa cây cảnh thu hút khách du lịch.
Dệt thổ cẩm cũng là một nghề truyền thống lâu đời ở địa phương. Các sản phẩm thổ cẩm không chỉ là nét văn hóa đặc trưng mà còn giúp cải thiện sinh kế cho người dân và thu hút khách du lịch, chẳng hạn như mô hình tổ hợp tác dệt thổ cẩm ở xã Du Già, Yên Minh. Đối với hoạt động du lịch cộng đồng, tỉnh đã xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; trong đó, phát triển du lịch cộng đồng là giải pháp thúc đẩy ngành “công nghiệp không khói”, đưa vùng đất biên cương cực Bắc trở thành điểm đến hấp dẫn du khách. Toàn tỉnh Hà Giang cũ hiện có hơn 300 homestay, trong đó 70% do chính người dân tộc thiểu số vận hành (Hạnh Phúc, 2025). Trong đó, Quản Bạ là một điểm sáng trong du lịch cộng đồng. Du khách đến đây được tham gia các hoạt động, như: Lễ Cấp Sắc, lễ cầu mùa, hát giao duyên, hát đối, đẩy gậy, kéo co, múa sạp, đốt lửa trại, được tìm hiểu phong tục tập quán, sinh hoạt cùng người dân; thưởng thức những món ăn độc đáo mang đậm truyền thống của dân tộc Dao được chế biến từ nông sản thu hái trên rừng, dưới suối như măng chua, măng đắng, canh đắng, cơm lam, nộm hoa chuối rừng, lợn rừng quay, gà đồi, rượu ngô,...
3.1. Tình hình lao động của các hộ khảo sát
Theo Bảng 3.1 cơ cấu lao động phân bố khá khác nhau giữa các nhóm sản phẩm. Các hộ làm thực phẩm bản địa có bình quân lao động cao nhất (4,2 lao động/hộ), phản ánh đặc thù ngành hàng cần nhiều nhân công phục vụ chế biến, đóng gói và tương tác trực tiếp với du khách. Nhóm trồng hoa – cây cảnh xếp thứ hai (2,4 lao động/hộ), cho thấy nhu cầu nhân lực cho chăm sóc thường xuyên và chuẩn bị sản phẩm trưng bày. Trong khi đó, hộ sản xuất giấy bản và thủ công thổ cẩm có quy mô nhỏ hơn, tương ứng 2 và 1,4 lao động/hộ, phù hợp với thực tiễn các làng nghề truyền thống thường dựa vào lao động gia đình. Lực lượng lao động dành riêng cho sản xuất phục vụ du lịch cũng có sự khác biệt: nhóm hoa – cây cảnh cao nhất (1,8 người), tiếp đến là thực phẩm bản địa (1,6 người), cho thấy mức độ thương mại hóa và khả năng đáp ứng nhu cầu trải nghiệm của du khách. Ngược lại, nhóm thổ cẩm và giấy bản có lao động tham gia du lịch ít hơn (khoảng 1,0–1,2 người/hộ), phản ánh tính đặc thù sản xuất thủ công chủ yếu dựa trên kinh nghiệm gia đình và ít hướng đến hoạt động trình diễn, trải nghiệm tại chỗ.
Bảng 3.1. Hiện trạng lao động tiêu thụ sản phẩm nghề, nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng của các hộ khảo sát
ĐVT: Người/hộ
|
Chỉ tiêu
|
Sản phẩm
|
|
Giấy bản
|
Trồng hoa cây cảnh
|
Thổ cẩm
|
Thực phẩm bản địa
|
|
Tổng số lao động
|
2,0
|
2,4
|
1,4
|
4,2
|
|
Lao động sản xuất bán sản phẩm phục vụ du lịch cộng đồng
|
1,2
|
1,8
|
1,2
|
1,6
|
|
Lao động làm việc tại các homestay
|
-
|
-
|
-
|
3,6
|
Nguồn: Kết quả khảo sát (2025)
Xét riêng lao động làm việc tại các homestay, số lao động kinh doanh thực phẩm bản địa là 3,6 người/hộ, ba nhóm còn lại không có sự tham gia hoặc ở mức bằng 0. Điều này phù hợp với thực tế Hà Giang: các hộ làm thực phẩm thường kiêm kinh doanh dịch vụ lưu trú, phục vụ ăn uống hoặc trải nghiệm nấu ăn truyền thống cho du khách. Trong bối cảnh du lịch cộng đồng phát triển mạnh, thực phẩm bản địa trở thành lợi thế cạnh tranh nổi trội, giúp tăng thu nhập và tạo thêm nhiều việc làm. Ngược lại, các nghề như thổ cẩm, giấy bản hay trồng hoa – cây cảnh thường tập trung vào sản xuất tại hộ và bán tại chợ phiên hoặc điểm du lịch, ít gắn trực tiếp với dịch vụ homestay. Qua Bảng 3.1 có thể khẳng định rằng mức độ gắn kết giữa nghề, nghề truyền thống và du lịch cộng đồng còn chưa đồng đều; những lĩnh vực có sản phẩm phù hợp với du lịch trải nghiệm sẽ thu hút nhiều lao động hơn. Điều này gợi ý định hướng chính sách cần tập trung hỗ trợ đa dạng hóa sản phẩm, tăng tính trải nghiệm và kết nối giữa các nghề, nghề truyền thống với mô hình du lịch bản địa nhằm tạo sinh kế bền vững cho người dân Hà Giang.
3.2. Tình hình cơ sở vật chất của hộ khảo sát
Tình hình trang bị cơ sở vật chất của hộ tại các tỉnh được thể hiện qua Bảng 3.2. Báo cáo tập trung tìm hiểu hoạt động ghi chép trong quá trình sản xuất kinh doanh và các phương tiện hỗ trợ hoạt động kết nối internet. Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động xác định kết quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đổi mới phương thức tiêu thụ sản phẩm, giúp tăng tương tác, kết nối của các điểm du lịch cộng đồng với du khách.
Hoạt động ghi chép thu chi của các hộ khảo sát chưa được chú ý, 100% các hộ được phỏng vấn không có ghi chép thu chi thường xuyên. Việc ghi chép vật tư được chú ý hơn với 62,2% số hộ. Việc ghi chép đầy đủ sẽ giúp các hộ dễ dàng theo dõi hoạt động sản xuất, tiêu thụ, hạch toán kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, việc ghi chép mới tập trung vào thu chi, vật tư bằng tiền, còn những thu chi không dưới dạng tiền mặt đang bị bỏ qua. Tương tự như vậy, việc xây dựng kế hoạch sản xuất cũng còn hạn chế, chỉ hơn 16% số hộ có ghi chép. Xây dựng kế hoạch sản xuất cần dựa trên xác định nhu cầu tiêu thụ để tổ chức yếu tố đầu vào sao cho hiệu quả. Các hộ cần được tập huấn kỹ năng này. Kết nối internet theo các phương thức khác nhau, sử dụng các phương tiện điện tử đa dạng có tỷ lệ cao ở các hộ. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để quảng bá và phát triển tiêu thụ sản phẩm, du lịch công đồng.
Bảng 3.2. Thực trạng trang bị cơ sở vật chất phục vụ tiêu thụ sản phẩm nghề, nghề truyền thống của các hộ khảo sát
|
STT
|
Chỉ tiêu
|
% số hộ khảo sát
|
|
1
|
Sổ ghi chép thu chi
|
-
|
|
2
|
Sổ ghi chép vật tư
|
62,2
|
|
3
|
Kế hoạch sản xuất
|
16,7
|
|
4
|
Có internet cố định
|
100,0
|
|
5
|
Cố kết nối internet wifi
|
92,2
|
|
6
|
Có kết nối internet 4G
|
87,8
|
|
7
|
Có máy tính cầm tay
|
85,6
|
|
8
|
Có máy tính bàn
|
7,8
|
|
9
|
Có laptop
|
10,0
|
|
10
|
Có điện thoại di động, máy tính bảng
|
100,0
|
|
11
|
Có camera giám sát
|
47,8
|
Nguồn: Kết quả khảo sát (2025)
3.3. Cách thức tiêu thụ sản phẩm nghề, nghề truyền thống của các hộ khảo sát gắn với phát triển du lịch cộng đồng
3.3.1. Cách thức tiêu thụ sản phẩm của các hộ khảo sát
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm nghề, nghề truyền thống tại Hà Giang cũ được thực hiện qua các kênh khách nhau. Giấy bản là sản phẩm được sử dụng nhiều trong các hoạt động tâm linh. 95 % hộ bán tại các chợ truyền thống hoặc chợ phiên, chỉ gần 6% số hộ bán cho hoạt động du lịch khi du khách tới tham quan trình diễn quy trình sản xuất. Tương tự như vậy, với các sản phẩm thổ cẩm, chỉ 20% bán cho du lịch, còn lại được bán tại các chợ truyền thống/chợ phiên. Trong khi đó, thực phẩm bản địa là những đặc sản của địa phương được tiêu thụ phần lớn ở các điểm du lịch cộng đồng (chiếm 80%). Kênh tiêu thụ sản phẩm chủ yếu của hoa cây cảnh là đại lý phân phối/người thu gom (chiếm 70%).
Bảng 3.3. Cách thức bán sản phẩm nghề, nghề truyền thống của hộ khảo sát
gắn với phát triển du lịch cộng đồng
|
Sản phẩm
|
Cách thức bán hàng (% hộ khảo sát)
|
|
Chợ truyền thống/chợ phiên
|
Sân bay
|
Điểm du lịch cộng đồng
|
Khách sạn/ nhà hàng/ quán án
|
Đại lý phân phối/người thu gom
|
|
Giấy bản
|
95,0
|
-
|
6
|
-
|
-
|
|
Trồng hoa cây cảnh
|
25
|
-
|
5
|
-
|
70
|
|
Thổ cẩm
|
80
|
-
|
20
|
-
|
-
|
|
Thực phẩm bản địa
|
20
|
-
|
80
|
-
|
-
|
Nguồn: Kết quả khảo sát (2025)
3.2.2. Cách thức quảng bá sản phẩm của các hộ khảo sát
Hoạt động quảng bá cá nhân vẫn đang chiếm ưu thế. Kết quả khảo sát ở Bảng 3.4 cho thấy, 100% các hộ đều quảng bá qua người quen, người thân, thể hiện tính truyền thống trong tiêu thụ sản phẩm của người dân bản địa. Tỷ lệ sử dụng Facebook và Zalo để giới thiệu sản phẩm đạt mức cao ở hầu hết các tỉnh, chiếm trên 60%. Điều này cho thấy sự phổ biến của kênh mạng xã hội trong tiếp cận khách hàng. Một lượng nhỏ các hộ đã quảng bá sản phẩm trên sàn thương mại điện tử.
Bảng 3.4. Cách thức quảng bá sản phẩm nghề, nghề truyền thống của các hộ khảo sát
gắn với phát triển du lịch cộng đồng
|
Cách thức quảng bá
|
% số hộ khảo sát
|
|
Truyền hình
|
0
|
|
Người quen, người thân
|
100
|
|
Website
|
46,7
|
|
Youtube
|
67,0
|
|
Facebook
|
62,3
|
|
Zalo
|
65,6
|
|
Sàn giao dịch thương mại điện tử
|
10,0
|
|
Hợp tác xã
|
58,0
|
|
Đại lý phân phối
|
23,0
|
|
Chính quyền địa phương
|
18,0
|
|
Quảng bá kết hợp giới thiệu tour du lịch
|
55,0
|
|
Kết hợp các điểm du lịch, dịch vụ lưu trú, ăn uống và giải trí
|
55,0
|
Nguồn: Kết quả khảo sát (2025)
Bên cạnh đó, việc quảng bá được chính quyền địa phương hỗ trợ thông qua các hội chợ, gian hàng trưng bày sản phẩm cũng đã bước đầu được triển khai, song quy mô nhỏ, chưa thường xuyên. Hoạt động quảng bá kết hợp giới thiệu tour du lịch, gắn với điểm lưu trú, ăn uống, giải trí bước đầu được quan tâm. Việc hình thành các chuỗi liên kết giữa sản xuất – tiêu thụ – du lịch sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quảng bá, mở rộng thị trường và hướng tới tiêu thụ bền vững.
3.3.3. Cách thức phát triển sản phẩm của các hộ khảo sát
Mặc dù các hộ sản xuất đã có sự chủ động trong khâu quảng bá, nhưng việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, làng nghề và nghề truyền thống vẫn còn mang tính bị động. Khi xem xét các hình thức mà hộ áp dụng trong phát triển sản xuất gắn với phát triển du lịch cộng đồng, nhiều chỉ tiêu mở mức 1 và 2 (điểm trung bình dưới 2,6).
Bảng 3.5. Cách thức phát triển sản phẩm nghề, nghề truyền thống
gắn với phát triển du lịch cộng đồng của các hộ khảo sát
|
STT
|
Chỉ tiêu
|
Điểm trung bình
|
|
Giấy bản
|
Hoa cây cảnh
|
Thổ cẩm
|
Thực phẩm bản địa
|
|
1
|
Tận dụng cơ hội bán hàng và tiêu thụ sản phẩm
|
1,9
|
1,2
|
1,3
|
1,9
|
|
2
|
Quảng bá thương hiệu sản phẩm của địa phương
|
1,9
|
3,5
|
1,4
|
1,5
|
|
3
|
Sẵn sàng tiếp cận thị trường mới
|
1,7
|
3,3
|
1,2
|
2,7
|
|
4
|
Trao đổi thông tin kỹ thuật
|
1,6
|
3,4
|
1,3
|
1,6
|
|
5
|
Tăng cường bao gói sản phẩm
|
1,4
|
1,1
|
1,2
|
1,5
|
|
6
|
Chú trọng phát triển mẫu mã
|
1,4
|
1,1
|
1,0
|
1,4
|
|
7
|
Kết hợp tăng trải nghiệm cho khách du lịch
|
2,2
|
2,0
|
1,2
|
1,5
|
|
8
|
Quảng bá thương hiệu sản phẩm nghề, nghề truyền thống
|
2,1
|
2,2
|
1,2
|
1,3
|
|
9
|
Kết nối hoạt động truyền thống với các hoạt động mới
|
2,4
|
3,9
|
1,4
|
1,6
|
|
10
|
Sẵn sàng đổi mới trong phương thức tiêu thụ
|
2.9
|
3,7
|
1,8
|
1,9
|
Nguồn: Kết quả khảo sát (2025)
3.3.4. Kỹ năng tiêu thụ sản phẩm của các hộ khảo sát
Đánh giá kỹ năng của hộ liên quan tới thương mại điện tử, quảng bá sản phẩm, kỹ năng livestream, đăng bài... cũng còn hạn chế. Hộ chưa tham gia các khoá đào tạo bài bản về hoạt động này mà đều tự học và thực hiện. Kết quả khảo sát được thể hiện như Bảng 3.6. Nhìn chung đánh giá của các hộ khảo sát về kỹ năng của mình liên quan về bán hàng sản phẩm nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng còn nhiều hạn chế. Đa số các kiến thức, kỹ năng của hộ ở mức 1 và 2 theo thang đo 5 mức độ.
Bảng 3.6. Kỹ năng kinh doanh tiêu thụ sản phẩm nghề, nghề truyền thống
gắn với phát triển du lịch cộng đồng của các hộ khảo sát
|
STT
|
Chỉ tiêu
|
Điểm trung bình
|
|
Giấy bản
|
Trồng hoa cây cảnh
|
Thổ cẩm
|
Thực phẩm bản địa
|
|
1
|
Thực hiện bán hàng và thương mại gắn với phát triển du lịch cộng đồng
|
1,8
|
3
|
2,6
|
1,3
|
|
2
|
Vận dụng cách thức bảng bá sản phẩm gắn với phát triển du lịch cộng đồng
|
1,6
|
2,8
|
1
|
2,3
|
|
3
|
Sử dụng thành thạo các hình thức thanh toán điện tử
|
1,4
|
2,9
|
1,0
|
1,8
|
|
4
|
Kỹ năng livestream bán hàng nông sản gắn với phát triển du lịch cộng đồng
|
1,7
|
1,4
|
1,4
|
2,6
|
|
5
|
Kỹ năng đăng bài quảng bá sản phẩm gắn với phát triển du lịch cộng đồng
|
2,1
|
1,1
|
1,0
|
2,5
|
|
6
|
Thực hiện đúng pháp luật liên quan tới bán hàng và tiêu thụ nông sản gắn với phát triển du lịch cộng đồng
|
1,9
|
1,6
|
1,0
|
2,0
|
Nguồn: Kết quả khảo sát (2025)
3.4. Đánh giá những hạn chế và một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy kinh doanh tiêu thụ sản phẩm nghề, nghề truyền thống của hộ gắn với phát triển du lịch cộng đồng
Từ phân tích thực trạng trên, có thể thấy rằng hoạt động tiêu thụ sản phẩm nghề, nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng vẫn còn những hạn chế. Hạn chế lớn nhất nằm ở kỹ năng quản lý tài chính và ghi chép nhật ký sản xuất, khi 100% số hộ khảo sát không thực hiện ghi chép thu chi thường xuyên. Các kỹ năng số chuyên sâu như livestream bán hàng, đăng bài marketing chuyên nghiệp hay quản lý dữ liệu trực tuyến đều bị đánh giá ở mức rất thấp, chủ yếu do người dân tự học chứ chưa qua đào tạo bài bản. Việc xây dựng "câu chuyện sản phẩm" để nâng cao giá trị thương hiệu vẫn còn mờ nhạt, khiến sản phẩm khó tạo dấu ấn riêng biệt trong lòng du khách. Mối liên kết giữa các hộ sản xuất với các đơn vị lữ hành và dịch vụ homestay vẫn còn rời rạc, chưa tạo thành một chuỗi trải nghiệm tích hợp "sản xuất - trình diễn - tiêu thụ". Mặc dù 100% hộ dân đều nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật đối với hoạt động sản xuất kinh doanh (đánh giá ở mức 5), nhưng kiến thức thực tế lại vô cùng thiếu hụt. Người dân còn lúng túng trong các quy định về nhãn mác, thông tin sản phẩm và truy xuất nguồn gốc, dẫn đến việc nhiều sản phẩm như giấy bản hay bánh mè vẫn được bán ra mà không có bao bì hay thông tin rõ ràng. Đặc biệt, sự thiếu hiểu biết về luật thương mại điện tử và các quy định pháp lý trên nền tảng số đang là rào cản lớn khiến người dân chưa thể tự tin mở rộng bán hàng trên các sàn quốc tế hay xuất khẩu chính ngạch.
Tình hình liên kết hiện nay vẫn mang tính tự phát và thiếu bền vững, chủ yếu dừng lại ở "liên kết ngang" giữa các hộ gia đình để thành lập tổ hợp tác hoặc HTX. "Liên kết dọc" với các công ty lữ hành và đơn vị lữ hành chuyên nghiệp còn rất mờ nhạt, khiến các sản phẩm nghề truyền thống chưa được tích hợp chặt chẽ vào các tour du lịch đặc trưng của địa phương. Để thúc đẩy hoạt động này, ngoài sự nỗ lực của các hộ dân còn cần sự hỗ trợ từ nhiều phía. Các hộ cần xây dựng sản phẩm phù hợp với xu hướng, nhu cầu du khách, hướng dẫn lập kế hoạch bán hàng, hướng dẫn thực hiện bán hàng, quảng bá sản phẩm và thu hút khách hàng; chủ động tiếp cận với các kỹ năng như livestream bán hàng, đăng bài marketing chuyên nghiệp hay quản lý dữ liệu trực tuyến. Chính quyền địa phương xây dựng chính sách, tạo cơ chế để khuyến khích phát triển sản phẩm nghề, nghề truyền thống; tổ chức các điểm giới thiệu sản phẩm nghề tạo địa phương, tổ chức các khoá đào tạo để nâng cao các kỹ năng về bán hàng kết hợp với du lịch cho hộ dân.
4. Kết luận
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm nghề, nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng tại trên địa bàn nghiên cứu đã giúp các hộ tạo thu nhập, cải thiện cuộc sống. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế: Kỹ năng về quản lý tài chính, ghi chép sổ sách, các kỹ năng chuyên sâu trong bán hàng còn thiếu; lúng túng trong các vấn đề về nhãn mác, thông tin sản phẩm, truy suất nguồn gốc; xây dựng câu chuyện sản phẩm, liên kết dọc hoạt động sản xuất và tiêu thụ còn mờ nhạt. Vì vậy, bên cạnh sự cố gắng của các hộ trong cải thiện kiến thức và kỹ năng, chủ động tìm kiếm và xây dựng liên kết sản xuất và tiêu thụ; chính quyền địa phương cần tăng cường các khoá đào tạo, phổ biến kiến thức, rèn luyện kỹ năng cho người dân địa phương để gắn kết hoạt động tiêu thụ sản phẩm truyền thống với du lịch cộng đồng; xây dựng các chính sách khuyến khích liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Tài liệu tham khảo
1. Anh Tú (2023). Hà Giang vùng văn hóa bản địa đặc sắc lợi thế trong phát triển du lịch. Tạp chí Doanh nghiệp và Kinh tế xanh. Truy cập ngày 15/06/2025. Link truy cập https://doanhnghiepkinhtexanh.vn/ha-giang-vung-van-hoa-ban-dia-dac-sac-loi-the-trong-phat-trien-du-lich-a13723.html.
2. Đinh Luyện (2023). Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch: Hiệu quả kép trong phát triển kinh tế. Truy cập ngày 25/07/2025. Link truy cập https://tapchicongthuong.vn/de-xuat-mot-so-giai-phap-de-phat-trien-du-lich-lang-nghe-viet-nam-133109.htm.
3. Hà Giang (2025), Hà Giang: Một số giải pháp phát triển du lịch văn hoá gắn với giảm nghèo đa chiều. Tạp chí Tổ chức nhà nước và lao động, truy cập ngày 16/12/2025, link truy cập https://tcnnld.vn/news/detail/70639/Ha-Giang-Mot-so-giai-phap-phat-trien-du-lich-van-hoa-gan-voi-giam-ngheo-da-chieu.html.
4. HĐND tỉnh Hà Giang (2023). Nghị quyết số 10/2023/NQ-HĐND ngày 15/07/2023 về quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch đến năm 2028 trên địa bàn tỉnh Hà Giang
5. Gia Ngân (2022). Hà Nội: Phát triển kinh tế làng nghề từ du lịch và sản phẩm OCOP. Tạp chí Cộng sản. Truy cập ngày 16/05/2025. Link truy cập https://tapchicongthuong.vn/de-xuat-mot-so-giai-phap-de-phat-trien-du-lich-lang-nghe-viet-nam-133109.htm.
6. UBND tỉnh Hà Giang (2021). Quyết định 1324/QĐ-UBND ngày 05/07/2021 về Bộ tiêu chí “Làng văn hóa du lịch tiêu biểu gắn với OCOP”.
7. UBND tỉnh Hà Giang (2018). Quyết định số 500/QĐ-UBND ngày 22/03/2018 phê duyệt Chương trình OCOP Hà Giang giai đoạn 2018–2020, định hướng 2030.
8. Tỉnh uỷ Hà Giang (2021). Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 20/08/2021 về phát triển du lịch Hà Giang giai đoạn 2021 – 2025.
Nhóm nghiên cứu: Thể chế, chính sách và môi trường kinh doanh nông sản và thực phẩm,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tác giả liên hệ: Trần Thị Thanh Huyền