Tầm nhìn Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV cho thấy rõ hơn vị thế, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của nông nghiệp Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Ngành nông nghiệp và môi trường Việt Nam vừa trải qua năm 2025 đáng nhớ với những con số kỷ lục về xuất khẩu, khẳng định vị thế của nông nghiệp từ vai trò "trụ đỡ" thụ động khi nền kinh tế gặp khó khăn, trở thành "động lực" tăng trưởng chủ động và mạnh mẽ trong bối cảnh đất nước đang hướng tới những mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, có nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.
Những dấu ấn chuyển mình của 2025
Trước hết, có thể nói, thành tựu ấn tượng nhất trong chặng đường vừa qua đọng lại ở con số tổng kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản năm 2025 hơn 70 tỷ USD, tăng khoảng 12% so với năm 2024 và vượt xa mục tiêu Chính phủ giao. Với mức xuất siêu kỷ lục trên 20 tỷ USD, nông nghiệp tiếp tục là "tấm đệm" vững chắc giúp ổn định tỷ giá và dự trữ ngoại hối quốc gia.
Không chỉ tăng trưởng về quy mô, cơ cấu ngành hàng nông nghiệp xuất khẩu cũng có sự chuyển dịch mang tính cách mạng từ "lượng" sang "chất", từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế. Sự chuyển dịch này thể hiện rõ ở việc tư duy sản xuất manh mún và chú trọng sản lượng từng bước được thay thế bằng tư duy kinh tế nông nghiệp hiện đại, gắn chặt với thị trường, chuỗi giá trị và yêu cầu phát triển bền vững.
    |
 |
| Năm 2025, rau quả xuất khẩu soán ngôi nhiều mặt hàng truyền thống. Ảnh: Việt Quốc |
Trong bức tranh toàn cảnh đó, rau quả tạo ấn tượng mạnh mẽ khi kim ngạch xuất khẩu lần đầu vượt 8,5 tỷ USD, tăng gần 20% so với năm trước, soán ngôi nhiều mặt hàng truyền thống, phản ánh hiệu quả của chiến lược chế biến sâu, chuẩn hóa vùng nguyên liệu và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Đồng thời, các ngành hàng truyền thống tiếp tục giữ vững phong độ. Xuất khẩu lâm sản vượt 18 tỷ USD, trong khi thủy sản đạt hơn 11 tỷ USD, thể hiện khả năng thích ứng hết sức chủ động trước các rào cản kỹ thuật quốc tế ngày càng khắt khe. Đối với lúa gạo, kim ngạch xuất khẩu giảm còn khoảng 4,1 tỷ USD, sau khi đạt đỉnh vào 2024, song đây không phải là dấu hiệu khủng hoảng mà là sự điều chỉnh về trạng thái bình thường mới, cho thấy ngành lúa gạo chuyển sang tập trung vào giá trị thặng dư và giảm phát thải khí nhà kính, thay vì chạy theo sản lượng để giữ ngôi vị "cường quốc xuất thô".
Những thành tựu kể trên càng trở nên đặc biệt hơn khi được gặt hái trong một năm nhiều thiên tai khốc liệt, thể hiện sức chống chịu phi thường của ngành nông nghiệp.
Một dấu ấn quan trọng khác trong năm 2025 là việc hợp nhất bộ máy quản lý, hình thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Quyết sách này đã giải quyết căn bản những xung đột kéo dài giữa phát triển sản xuất và bảo vệ tài nguyên, thống nhất quản lý đất đai và nguồn nước, tạo tiền đề vững chắc cho một nền nông nghiệp sinh thái và thích ứng biến đổi khí hậu.
Những trở lực cần được hóa giải
Trong khi các con số tăng trưởng của nông nghiệp Việt Nam mang lại niềm phấn khích không dễ gì có được, thực tiễn phát triển khiến chúng ta không thể phớt lờ những nghịch lý đang âm thầm kìm hãm khả năng bứt phá của ngành. Đây không chỉ là những tồn tại mang tính kỹ thuật, mà phản ánh những vấn đề mang tính cấu trúc của toàn ngành.
Một trong những nghịch lý lớn nhất nằm ở mối quan hệ giữa giá trị đóng góp và việc sử dụng lao động. Nông nghiệp hiện đóng góp khoảng 11–12% GDP, nhưng lại sử dụng tới gần 30% lực lượng lao động xã hội, suy ra năng suất lao động còn thấp. Trên thực tế, một nông dân Việt Nam ngày nay mới tạo ra lượng lương thực, thực phẩm đủ nuôi sống khoảng 3-5 người, trong khi con số này ở Mỹ lên tới 166 người và tại Hà Lan dao động từ 150-200 người. Khoảng cách đó cho thấy dư địa cải thiện năng suất của nông nghiệp Việt Nam vẫn còn rất lớn.
Một nghịch lý khác lộ ra qua vị thế của một quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới nhưng lại yếu thế về thương hiệu và giá trị gia tăng. Cơ cấu xuất khẩu hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và gia công sơ cấp, trong khi vai trò của sáng tạo, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu còn mờ nhạt. Sự thật là, khi xuất khẩu 1 kg cà phê nhân, Việt Nam chỉ thu về khoảng 1,5 USD; trong khi cùng nguyên liệu đó, sau khi được chế biến và xây dựng thương hiệu, các doanh nghiệp Thụy Sĩ có thể bán ra thị trường với giá cao gấp gần 20 lần. Điều này đồng nghĩa với việc nông nghiệp Việt Nam đang ở vai trò "làm thuê" trong chuỗi giá trị toàn cầu, ngay trên chính những cánh đồng của mình.
    |
 |
| Mô hình "một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp" tại ĐBSCL vừa nâng cao thu nhập cho nông dân, vừa góp phần bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh: Trần Thanh |
Bên cạnh đó, tư duy sản xuất nhỏ lẻ và manh mún là rào cản dai dẳng đối với quá trình hiện đại hóa nông nghiệp. Dù đã xuất hiện những cánh đồng mẫu lớn, tình trạng phân mảnh đất đai vẫn phổ biến, gây khó khăn cho việc áp dụng công nghệ cao, cơ giới hóa đồng bộ và quản trị sản xuất theo chuẩn hiện đại. Đây chính là "nút thắt" cần sớm được tháo gỡ nếu nông nghiệp Việt Nam muốn chuyển nhanh sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu, hiệu quả và bền vững.
Tầm nhìn từ Đại hội XIV
Văn kiện Đại hội XIV đã nâng tầm tư duy chiến lược về phát triển nông nghiệp, xác định rõ nông nghiệp không chỉ là "trụ đỡ" của an sinh xã hội mà trở thành một lợi thế cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới. Trên nền tảng tư duy đó, triết lý phát triển mới được định hình qua ba trụ cột, nhằm tái cấu trúc toàn diện không gian nông nghiệp, nông thôn và chủ thể sản xuất.
Trước hết, nông nghiệp được định hướng phát triển theo hướng sinh thái, hiện đại và tuần hoàn, chuyển mạnh từ mục tiêu sản xuất sạch sang tăng trưởng xanh, gắn chặt với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính. Mô hình "một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp" tại đồng bằng sông Cửu Long đã bước đầu minh chứng tính khả thi của hướng đi này, khi vừa nâng cao thu nhập cho nông dân, vừa góp phần bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Cùng lúc, cách tiếp cận tích hợp đa giá trị được triển khai đồng bộ, mở rộng vai trò của nông nghiệp từ sản xuất hàng hóa sang kết nối du lịch nông thôn, bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển năng lượng tái tạo.
Song song với chuyển đổi mô hình sản xuất, xây dựng nông thôn hiện đại và đáng sống được xác định là trụ cột thứ hai. Phát triển nông thôn phải hướng tới kiến tạo không gian sống văn minh, kết nối số, dịch vụ đầy đủ và môi trường sinh thái bền vững, thay vì chỉ dừng ở đầu tư hạ tầng theo hướng bê tông hóa. Việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống được đặt trong mối quan hệ hài hòa với hiện đại hóa, qua đó đưa nông thôn trở thành nơi "đáng sống", đủ sức giữ chân người dân và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao quay trở lại khu vực này.
Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hình ảnh người nông dân văn minh và chuyên nghiệp, coi đây là yếu tố quyết định thành công của quá trình chuyển đổi. "Trí thức hóa" nông dân trở thành đòi hỏi cấp bách trong bối cảnh kinh tế số và hội nhập sâu rộng. Người nông dân trong giai đoạn mới không chỉ dựa vào kinh nghiệm canh tác truyền thống, "trông trời trông đất trông mây", mà cần trở thành những nông dân số, những "doanh nhân nông nghiệp" làm chủ dữ liệu, công nghệ, thị trường và chuỗi giá trị, chủ động thích ứng với biến động thay vì trông vào thiên nhiên và may rủi.
Nông nghiệp Việt Nam không thiếu tiềm năng, cái chúng ta từng thiếu là một "giấc mơ lớn" và sự đồng bộ trong hành động. Nhưng nay, với tư duy mới từ Đại hội XIV và nền tảng hạ tầng - thể chế ngày càng hoàn thiện, thời cơ đã chín muồi.
Chúng ta không chọn con đường bỏ qua nông nghiệp để chạy theo công nghiệp, mà chọn con đường "công nghiệp hóa nông nghiệp". Khi đó, nông nghiệp không chỉ là chiếc phao cứu sinh ("trụ đỡ") trong bão tố, mà thực sự là một trong những nhân tố đưa kinh tế Việt Nam cất cánh, góp phần mở ra một kỷ nguyên mới nơi người nông dân giàu lên từ đất, và đất nước mạnh lên từ nông nghiệp.
Trần Đức Viên
---
Nguồn tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương (2022) Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/06/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hà Nội: Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương (2024) Nghị quyết số 57-NQ/TW về Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ. Hà Nội: Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương (2024-2025) Các nghị quyết số 59, 66, 68, 71. Hà Nội: Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025) Báo cáo đánh giá kết quả công tác năm 2025, giai đoạn 2021-2025 và triển khai kế hoạch năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Chính phủ Việt Nam (2024) Đề án Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030. Hà Nội. Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Hà Nôi: Cổng thông tin điện tử.
Liên hợp quốc (2021) Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc lần thứ 26 (COP26). Glasgow, Vương quốc Anh.