Du lịch được xác định là một trong những ngành kinh tế quan trọng, có khả năng tạo động lực tăng trưởng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và quảng bá hình ảnh quốc gia. Sau giai đoạn phục hồi mạnh mẽ hậu đại dịch Covid-19, ngành du lịch Việt Nam đang đứng trước yêu cầu không chỉ tăng trưởng về số lượng khách mà còn phải nâng cao chất lượng điểm đến, gia tăng giá trị trải nghiệm và phát triển theo hướng bền vững. Trong bối cảnh nguồn lực ngân sách nhà nước còn hạn chế, trong khi nhu cầu đầu tư vào hạ tầng, bảo tồn tài nguyên, chuyển đổi số và xúc tiến quảng bá ngày càng lớn, hợp tác công tư (Public Private Partnership – PPP) trở thành một hướng đi tất yếu nhằm huy động nguồn lực xã hội, nâng cao hiệu quả quản trị và phát triển điểm đến du lịch.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hợp tác công tư trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam vẫn chưa phát huy hết tiềm năng. Mặc dù nhiều địa phương đã hình thành các mô hình phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng, song cơ chế hợp tác còn thiếu đồng bộ, chưa tạo được sự gắn kết lâu dài giữa các bên. Vì vậy, việc hoàn thiện chính sách và xây dựng cơ chế hợp tác công tư hiệu quả đang là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến và hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.


leftcenterrightdel
 Chùa Bái Đính trong quần thể danh thắng Tràng An, tỉnh Ninh Bình. Photo: Nguyễn Anh Đức

Hợp tác công tư – nền tảng của quản lý điểm đến hiện đại

Quản lý điểm đến du lịch không còn là nhiệm vụ riêng của cơ quan quản lý nhà nước mà đã chuyển sang mô hình quản trị đa chủ thể, trong đó Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng địa phương và du khách cùng tham gia vào quá trình tạo lập và duy trì giá trị điểm đến. Trong mô hình này, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, quy hoạch phát triển, đầu tư hạ tầng công cộng, bảo vệ tài nguyên và điều phối các bên liên quan; doanh nghiệp giữ vai trò đầu tư cơ sở vật chất, phát triển sản phẩm, cung ứng dịch vụ và mở rộng thị trường; cộng đồng địa phương góp phần bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hóa và cung cấp các dịch vụ du lịch đặc trưng.

Trên thế giới, nhiều quốc gia như Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand đã xây dựng thành công các mô hình quản trị điểm đến dựa trên hợp tác công tư, trong đó các tổ chức quản lý điểm đến (Destination Management Organization –DMO) đóng vai trò điều phối nguồn lực, xây dựng thương hiệu và giám sát chất lượng dịch vụ. Thực tiễn quốc tế cho thấy sự phát triển bền vững của một điểm đến phụ thuộc không chỉ vào nguồn lực tài chính mà còn vào cơ chế phối hợp hiệu quả giữa khu vực công và khu vực tư.

Thực trạng chính sách thúc đẩy hợp tác công tư trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm tạo điều kiện cho hợp tác công tư trong phát triển du lịch.

Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đã khẳng định chủ trương huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển sản phẩm và xúc tiến quảng bá du lịch(1). Luật Du lịch năm 2017 tiếp tục nhấn mạnh vai trò của các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng trong phát triển du lịch, đồng thời mở rộng cơ chế xã hội hóa đối với nhiều hoạt động quản lý và khai thác tài nguyên du lịch.

leftcenterrightdel
 Toạ đàm hợp tác công tư trong quản lý phát triển điểm đến du lịch tại phòng họp của công ty SunWorld Hà Nam, phường Hà Nam, tỉnh Ninh Bình. Photo: Nguyen Anh Duc

Bên cạnh đó, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật PPP) năm 2020 đã tạo 

khuôn khổ pháp lý thống nhất cho việc huy động khu vực tư nhân tham gia đầu tư các công trình hạ tầng(3). Tuy nhiên, luật hiện nay chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như giao thông, năng lượng, thủy lợi, cấp thoát nước, y tế và giáo dục; lĩnh vực du lịch chưa được xác định là một lĩnh vực ưu tiên riêng. Điều này khiến nhiều dự án hạ tầng du lịch khó áp dụng mô hình PPP theo đúng nghĩa, đặc biệt đối với các hạng mục có tính chất công cộng như trung tâm thông tin du lịch, bãi đỗ xe, tuyến tham quan, bến tàu du lịch hay các công trình phục vụ bảo tồn và khai thác di sản.

Ngoài ra, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 cũng xác định phát triển du lịch theo hướng huy động tối đa nguồn lực xã hội, đẩy mạnh liên kết vùng và tăng cường hợp tác giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Nhiều địa phương như Hà Nội, Quảng Ninh, Ninh Bình, Đà Nẵng, và thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động xây dựng cơ chế phối hợp trong xúc tiến đầu tư, quảng bá điểm đến và phát triển sản phẩm du lịch.

Mặc dù vậy, hệ thống chính sách hiện hành vẫn còn một số hạn chế

Trước hết, chưa có quy định chuyên biệt về hợp tác công tư trong quản lý điểm đến du lịch. Phần lớn các hoạt động hợp tác hiện nay mới dừng ở hình thức phối hợp hành chính hoặc xã hội hóa đầu tư, chưa hình thành cơ chế chia sẻ trách nhiệm, quyền lợi và rủi ro giữa khu vực công và khu vực tư. Nhiều chương trình quảng bá du lịch vẫn phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước hoặc nguồn đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp nên thiếu tính ổn định và dài hạn.

Thứ hai, cơ chế điều phối giữa các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng còn phân tán. Ở nhiều địa phương, chưa có tổ chức quản lý điểm đến đủ năng lực để điều phối các hoạt động phát triển, dẫn đến tình trạng đầu tư manh mún, sản phẩm trùng lặp và thiếu liên kết chuỗi giá trị.

Thứ ba, cơ chế chia sẻ dữ liệu, thông tin thị trường và thống kê du lịch giữa Nhà nước với doanh nghiệp còn hạn chế. Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng để dự báo nhu cầu, phân tích hành vi khách du lịch và xây dựng chính sách. Tuy nhiên, dữ liệu hiện vẫn phân tán ở nhiều cơ quan, thiếu kết nối và chưa được khai thác hiệu quả.

Cuối cùng, việc huy động cộng đồng địa phương tham gia quản lý điểm đến vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Người dân ở nhiều nơi chủ yếu tham gia cung cấp dịch vụ nhỏ lẻ, trong khi tiếng nói của cộng đồng trong quy hoạch, giám sát và bảo tồn tài nguyên còn khá hạn chế.

Giải pháp thúc đẩy hợp tác công tư trong quản lý và phát triển điểm đến

Để hợp tác công tư thực sự trở thành động lực phát triển du lịch, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách. Cần nghiên cứu bổ sung các cơ chế đặc thù cho lĩnh vực du lịch trong quá trình hoàn thiện pháp luật về đầu tư và PPP, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia đầu tư các công trình hạ tầng phục vụ phát triển điểm đến. Đồng thời, cần xây dựng các chính sách ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế và thủ tục hành chính đối với các dự án có tác động lan tỏa đến phát triển du lịch bền vững.

Một giải pháp quan trọng khác là xây dựng mô hình quản trị điểm đến hiện đại theo hướng thành lập hoặc kiện toàn các tổ chức quản lý điểm đến (DMO) tại các địa phương trọng điểm. Các tổ chức này cần có sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội du lịch, doanh nghiệp, chuyên gia và đại diện cộng đồng nhằm điều phối quy hoạch, phát triển sản phẩm, quản lý thương hiệu, xúc tiến quảng bá và giám sát chất lượng dịch vụ.

Song song với đó, cần thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch giữa các bên tham gia. Doanh nghiệp chỉ sẵn sàng đầu tư dài hạn khi có môi trường chính sách ổn định, trong khi cộng đồng địa phương sẽ tích cực tham gia bảo vệ tài nguyên nếu được hưởng lợi trực tiếp từ hoạt động du lịch. Vì vậy, các địa phương cần xây dựng cơ chế phân bổ nguồn thu hợp lý từ hoạt động du lịch để tái đầu tư cho bảo tồn tài nguyên, cải thiện hạ tầng và nâng cao sinh kế của người dân.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc xây dựng nền tảng dữ liệu du lịch dùng chung cũng là yêu cầu cấp thiết. Nhà nước cần chủ trì xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về du lịch, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp chia sẻ dữ liệu về thị trường, lượng khách, xu hướng tiêu dùng và chất lượng dịch vụ. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) và hệ thống quản lý điểm đến thông minh sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản trị, dự báo nhu cầu thị trường và tối ưu hóa trải nghiệm của du khách.

Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết vùng và hợp tác công tư trong hoạt động xúc tiến quảng bá. Thay vì mỗi địa phương triển khai các chiến dịch riêng lẻ, cần hình thành các chương trình quảng bá chung theo cụm điểm đến hoặc vùng du lịch nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và xây dựng thương hiệu thống nhất. Các doanh nghiệp lữ hành, hàng không, lưu trú và dịch vụ cần được khuyến khích tham gia đồng tài trợ, đồng xây dựng sản phẩm và cùng triển khai các chiến dịch truyền thông ở thị trường quốc tế.

Cuối cùng, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực quản trị là yếu tố quyết định sự thành công của hợp tác công tư. Đội ngũ cán bộ quản lý cần được đào tạo về quản trị điểm đến, quản lý dự án PPP và chuyển đổi số; doanh nghiệp cần nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị chất lượng và trách nhiệm xã hội; cộng đồng địa phương cần được hỗ trợ về kỹ năng làm du lịch, bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường.

Hợp tác công tư không chỉ là giải pháp huy động nguồn lực tài chính mà còn là phương thức quản lý hiện đại, tạo dựng sự đồng thuận giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong phát triển điểm đến du lịch. Những kết quả đạt được trong thời gian qua cho thấy Việt Nam đã có nền tảng chính sách quan trọng để thúc đẩy hợp tác công tư, song vẫn cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình quản trị và tăng cường cơ chế chia sẻ lợi ích để khai thác hiệu quả hơn nguồn lực xã hội.

Trong bối cảnh cạnh tranh du lịch toàn cầu ngày càng gay gắt, chỉ khi xây dựng được một cơ chế hợp tác công tư thực chất, minh bạch và bền vững, Việt Nam mới có thể hình thành các điểm đến có sức cạnh tranh cao, phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương. Đây cũng là con đường quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

(1) Ban chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/1/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

(2) Quốc hội (2017). Luật số 09/2017/QH14: Luật Du lịch

(3) Quốc hội (2020). Luật số 64/2020/QH14: Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư

Nguyễn Tuấn Sơn

Khoa Kinh tế và Quản lý, Học viện Nông nghiệp Việt Nam