Đại biểu Quốc hội cho rằng, đầu tư cho con người là chìa khóa mở đường tăng trưởng, thúc đẩy KHCN, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Chiều 20/4, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở hội trường về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030; công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025; tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025.

Đầu tư cho con người để mở đường tăng trưởng

Phát biểu tại nghị trường, GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam (đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội), bày tỏ sự đồng tình và đánh giá cao Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 và những tháng đầu năm 2026. Theo bà, báo cáo đã phản ánh khá đầy đủ bối cảnh, kết quả đạt được cũng như những khó khăn, thách thức, đồng thời đề xuất nhiều nhóm giải pháp trọng tâm, toàn diện, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cao trong thời gian tới.

leftcenterrightdel
 GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam (đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội). Ảnh: Quochoi.vn.

Đáng chú ý, báo cáo đã nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71. Đây được xem là định hướng đúng, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn, GS.TS Nguyễn Thị Lan cho rằng cần nhìn nhận rõ một yếu tố mang tính nền tảng: con người. “Chúng ta đang nói nhiều đến công nghệ, nhưng công nghệ không tự tạo ra đột phá; con người mới là yếu tố quyết định việc làm chủ, phát triển và đưa công nghệ vào thực tiễn”, bà nói.

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, bà cho biết các quốc gia phát triển nhanh như Hàn Quốc, Israel hay Singapore đều đi trước một bước trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Không chỉ giỏi chuyên môn, lực lượng này còn có khả năng kết nối nghiên cứu với thị trường, tạo ra giá trị gia tăng cao và tăng trưởng bền vững.

Nhìn lại thực tiễn trong nước, điểm nghẽn hiện nay, theo bà Lan, không chỉ nằm ở chủ trương hay tiềm năng mà chủ yếu là thiếu lực lượng nhân lực có khả năng tạo đột phá trong khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việt Nam đang thiếu chuyên gia làm chủ công nghệ lõi, thiếu các nhà khoa học có khả năng dẫn dắt, thiếu nhân lực khai thác và sử dụng hiệu quả dữ liệu, và đặc biệt là thiếu đội ngũ có thể đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

Bên cạnh đó, sự kết nối giữa viện, trường, doanh nghiệp và địa phương còn chưa chặt chẽ do thiếu lực lượng có khả năng điều phối và dẫn dắt.

Dẫn chiếu trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, vấn đề này càng thể hiện rõ. Nhiều kết quả nghiên cứu về giống cây trồng, vật nuôi, chế phẩm sinh học, sản phẩm công nghệ sinh học, nông nghiệp số đã được tạo ra, nhưng việc ứng dụng vào thực tiễn, đưa vào sản xuất và thương mại hóa còn hạn chế. Nhiều mô hình vẫn dừng ở quy mô thí điểm, chưa thể nhân rộng.

leftcenterrightdel
GS.TS Nguyễn Thị Lan cho rằng, điểm nghẽn của Việt Nam không chỉ nằm ở tiềm năng hay kết quả nghiên cứu, mà ở khả năng tổ chức triển khai và làm chủ công nghệ. Ảnh: Quochoi.vn. 

Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, nguyên nhân cốt lõi là thiếu đội ngũ nhân lực có khả năng tích hợp, vừa làm chủ công nghệ, vừa hiểu thị trường và có năng lực tổ chức triển khai ở quy mô lớn. Trong khi đó, các quốc gia như Hà Lan hay Israel đã tạo được bước đột phá nhờ xây dựng lực lượng này, qua đó đưa nhanh tiến bộ khoa học vào sản xuất và tạo ra giá trị gia tăng cao.

So với các mô hình này, có thể thấy điểm nghẽn của Việt Nam không chỉ nằm ở tiềm năng hay kết quả nghiên cứu, mà ở khả năng tổ chức triển khai và làm chủ công nghệ. Vì vậy, khoa học công nghệ và chuyển đổi số ở nhiều nơi chưa thực sự trở thành động lực tăng trưởng; khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn vẫn còn lớn.

 

Từ thực tế đó, bà Lan đề xuất cần có một chương trình đột phá trong phát triển nguồn nhân lực, không theo hướng đào tạo đại trà mà tập trung xây dựng lực lượng nòng cốt có khả năng làm chủ công nghệ, dẫn dắt nghiên cứu và tạo ra giá trị thực tiễn. Việc đào tạo cần chuyển mạnh sang tiếp cận theo năng lực, gắn với bài toán của doanh nghiệp và thị trường, có sản phẩm đầu ra cụ thể, đi kèm cơ chế linh hoạt như đặt hàng, khoán theo kết quả, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế để huy động chuyên gia và học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển.

Trên cơ sở đó, bà đưa ra ba kiến nghị. Thứ nhất, cần làm rõ hơn trong báo cáo và các chương trình hành động nội dung phát triển nhân lực phục vụ trực tiếp cho đột phá khoa học công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực có lợi thế như nông nghiệp, môi trường, công nghệ sinh học và kinh tế xanh.

Thứ hai, sớm hình thành các chương trình đào tạo nhân lực nòng cốt cấp quốc gia, tập trung vào đội ngũ làm chủ công nghệ lõi, dữ liệu và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, gắn với nhu cầu cụ thể của ngành và doanh nghiệp.

Thứ ba, tiếp tục rà soát, cập nhật và hoàn thiện danh mục công nghệ chiến lược theo hướng gắn với lợi thế ngành, bảo đảm tập trung nguồn lực triển khai hiệu quả, thực chất, để Việt Nam sớm làm chủ các công nghệ chiến lược phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

GS.TS Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh, đột phá trong khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải bắt đầu từ con người. Không chỉ cần nhân lực chất lượng cao, mà cần đúng lực lượng có khả năng tạo ra và làm chủ công nghệ, biến công nghệ thành giá trị kinh tế. Nếu giải được bài toán này, Việt Nam không chỉ đạt mục tiêu tăng trưởng mà còn tạo nền tảng phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.

Khu vực kinh tế tư nhân cần “vùng an toàn pháp lý” thay vì hỗ trợ ngắn hạn

Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Phạm Trọng Nhân (Đoàn TP. Hồ Chí Minh) đã phân tích sâu sắc vai trò và những rào cản của khu vực kinh tế tư nhân. Theo đại biểu, dù GDP năm 2025 dự kiến đạt mức tăng trưởng 8- 9%, trong đó khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 51%, tạo việc làm cho 82% lực lượng lao động và chiếm 60% tổng đầu tư toàn xã hội, nhưng khu vực này chỉ chiếm khoảng 10% kim ngạch xuất khẩu. Phần lớn giá trị xuất khẩu vẫn thuộc về khu vực FDI.

leftcenterrightdel
 Đại biểu Phạm Trọng Nhân, Đoàn TP. Hồ Chí Minh phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

Đại biểu thẳng thắn nhận định: “Chênh lệch đó phản ánh thực tế là kinh tế tư nhân hiện chủ yếu hoạt động ở thị trường nội địa, gia công hoặc các phân khúc giá trị thấp. Trong khi những lĩnh vực chiến lược, công nghệ cao và hạ tầng lại thiếu vắng vai trò dẫn dắt của khu vực này”.

Từ thực tế đó, đại biểu đặt vấn đề liệu khu vực được xác định là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế có đang vận hành trong một khuôn khổ thể chế chưa tương xứng. Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay, theo đại biểu, là khả năng tiếp cận tín dụng khi chỉ khoảng 30% doanh nghiệp tư nhân tiếp cận được nguồn vốn chính thức, dù Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có hiệu lực gần 10 năm.

Đánh giá về các chính sách hiện hành, đại biểu cho rằng Nghị quyết 198 của Chính phủ dù là nỗ lực đáng ghi nhận nhưng vẫn mang tính “hỗ trợ có điều kiện”, chủ yếu gắn với tiêu chuẩn tín dụng xanh và ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị), chưa tạo ra một nền tảng pháp lý ổn định và có tính dự báo cao.

Từ đó, đại biểu Phạm Trọng Nhân kiến nghị Quốc hội cần xem xét đưa vào chương trình lập pháp Luật bảo đảm quyền phát triển kinh tế tư nhân, với ba trụ cột chính gồm: Luật hóa nguyên tắc bình đằng thực chất trong tiếp cận đất đai, tín dụng và cơ hội đầu tư; xác lập vùng an toàn pháp lý, bảo vệ người làm đúng quy định tại thời điểm quyết định, hạn chế rủi ro từ việc thay đổi chính sách; thiết lập cơ chế giám sát thường niên củ Chính phủ trước Quốc hội về việc thực thi các quyền của khu vực kinh tế tư nhân.

Khương Trung - Thanh Trang

https://nongnghiepmoitruong.vn/