Ngày 22/04/2026, tại Trung tâm Nông nghiệp sinh thái và Đào tạo nghề - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Hội đồng khoa học tổ chức nghiệm thu thành công đề tài nghiên cứu cấp Học viện “Đánh giá đặc điểm hình thái và đa dạng di truyền một số giống bưởi đỏ thuộc miền Bắc Việt Nam”, mã số T2025-14-56.
Đề tài được thực hiện trên 16 mẫu giống bưởi đỏ thu thập từ 4 tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ, Thanh Hóa), bao gồm các giống đặc sản như Bưởi Luận Văn (Thanh Hóa), Bưởi đỏ Mê Linh (Hà Nội), Bưởi đỏ Thanh Hồng (Hải Phòng) và một số nguồn gen nhập nội.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Chiều dài lá các giống bưởi đỏ dao động 7,4–13,4 cm, chiều rộng 4,3–8,3 cm; kích thước eo lá cũng biến thiên rõ (dài 1,4–3,8 cm, rộng 1,3–3,4 cm), cho thấy sự khác biệt hình thái giữa các giống. Đỉnh lá được chia thành 4 dạng, trong đó đỉnh tròn chiếm tỷ lệ cao nhất (43,75%). Phiến lá gồm hai dạng elip và gần tròn (mỗi loại 50%), và dạng gần tròn thường đi kèm đỉnh tròn. Trong khi đó, màu sắc và mép lá khá đồng nhất (đều xanh, mép nguyên hơi lượn sóng), nên ít có giá trị phân loại hơn.
Về các chỉ tiêu hình thái hoa của các giống bưởi đỏ có biến động nhất định. Chiều dài cuống hoa (1,3–2,67 cm), cánh hoa (2,37–3,03 cm) và đường kính hoa (2,70–3,60 cm) thay đổi giữa các giống, nhưng số cánh hoa đều ổn định ở mức 4 cánh. Chiều dài nhụy và nhị tương đương nhau (1,50–2,47 cm và 1,50–2,40 cm), số chỉ nhị cao nhất ở M7. Tỷ lệ hạt phấn hữu dục đạt 100%, tỷ lệ nảy mầm hạt phấn từ 80–100%, cho thấy khả năng sinh sản tốt.
    |
 |
| Hình 1. Hình thái lá và hoa của các giống bưởi đỏ thu thập |
Các giống bưởi đỏ có sự khác biệt rõ rệt về các chỉ tiêu chất lượng quả như hàm lượng chất khô (7,16–12,18%), độ Brix (5,10–11,30%), hàm lượng đường tổng số (4,24–8,98%) và vitamin C (38,36–88,68 mg/100 g). Trong đó, một số mẫu như M12, M13, M10 và M5 nổi bật về chất lượng ăn tươi nhờ hàm lượng chất khô, đường và độ Brix cao, đồng thời có hàm lượng axit thấp, tạo vị ngọt hài hòa.
    |
 |
| Hình 2. Hình thái quả của các giống bưởi đỏ thu thập |
Phân tích PCA: Sơ đồ Biplot PCA cho thấy hai trục chính Dim1 (43,9%) và Dim2 (29,8%) giải thích tổng cộng 73,7% biến thiên của dữ liệu, phản ánh tốt sự khác biệt giữa các giống. Trục Dim1 chủ yếu liên quan đến các chỉ tiêu chất lượng quả như độ Brix, chất khô, hàm lượng đường tổng số, trong khi Dim2 phản ánh sự đối lập giữa tỷ lệ ăn được với vitamin C. Các giống 5, 10, 11, 13 nằm theo hướng dương của Dim1 và liên quan với các chỉ tiêu chất lượng quả, trong khi các giống xa gốc tọa độ (8, 3, 12, 4) thể hiện sự khác biệt rõ rệt. Còn hàm lượng axit và vitamin C có xu hướng thể hiện mối quan hệ đối nghịch. Trên Dim2, tỷ lệ ăn được và màu sắc tép cũng có đóng góp theo hướng dương.
    |
 |
| Hình 3. Sơ đồ Biplot PCA giữa các chỉ tiêu chất lượng quả và các giống bưởi đỏ |
Về đánh giá đa dạng di truyền dựa trên 22 chỉ thị ISSR cho thấy: trung bình 9,5 băng/mồi, trong đó 7,77 băng đa hình, tỷ lệ đa hình 80,2%, đa dạng di truyền khá cao. Một số mồi đạt 100% đa hình, có khả năng phân biệt giống tốt. Chỉ số PIC dao động 0,12–0,40 (trung bình 0,25), các mồi ISSR sử dụng có hiệu quả trong đánh giá đa dạng di truyền bưởi.
Phân tích mức độ tương đồng di truyền của các mẫu bưởi đỏ cho thấy ở mức 0,64 – 0,87, ở mức tương đồng 0,67 các mẫu giống bưởi đỏ thu thập được phân thành hai nhóm:
Nhóm 1 gồm các mẫu giống: M12, M8, M9, M11, M14, M3, M4, M13.
Nhóm 2 gồm: M5, M15, M7, M2, M6, M1, M10, M16
    |
 |
| Hình 4. Sơ đồ mối quan hệ di truyền của 16 giống bưởi đỏ dựa trên chỉ thị phân tử |
Hội đồng nghiệm thu đánh giá đề tài có giá trị khoa học và thực tiễn cao, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn và khai thác nguồn gen bưởi đỏ, đồng thời góp phần định hướng chọn tạo giống bưởi chất lượng cao thích ứng với nhu cầu thị trường. Một số mẫu có chất lượng quả tốt, tỷ lệ ăn được cao và ít hạt là vật liệu triển vọng cho lai tạo nâng cao giá trị kinh tế và dinh dưỡng.
Trung tâm Nông nghiệp sinh thái và Đào tạo nghề
Ban Khoa học và Công nghệ