Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang được kỳ vọng sẽ tạo ra những bước ngoặt lớn. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có buổi trò chuyện cùng PGS, TS. Trần Trọng Phương, Trưởng khoa Tài nguyên và Môi trường (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) để làm rõ hơn về tầm ảnh hưởng của chính sách này.
Tầm nhìn đột phá và tư duy “chấp nhận rủi ro”
PV: Theo Phó Giáo sư, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, có những điểm mới mang tính “đột phá” nào so với các văn kiện trước đây, đặc biệt là trong việc định vị khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế xanh?
PGS, TS. Trần Trọng Phương: Nghị quyết số 57-NQ/TW có thể coi là chính sách “khoán 10” trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo với những điểm mới mang tính đột phá như:
Chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu: Khác với những văn kiện trước đây khi yêu cầu nghiên cứu 100% phải ra sản phẩm thì Nghị quyết 57 chấp nhận rủi ro, sai sót, độ trễ trong nghiên cứu khoa học. Điều này khuyến khích các nhà khoa học dấn thân trong công cuộc mở đường, dò tìm cái mới, khuyến khích các ý tưởng táo bạo, đột phá từ đội ngũ các nhà khoa học.
    |
 |
| PGS, TS. Trần Trọng Phương, Trưởng khoa Tài nguyên và Môi trường (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) |
Đầu tư nguồn lực tài chính nhiều hơn cho nghiên cứu khoa học như: Bố trí 3% GDP hàng năm cho hoạt động nghiên cứu khoa học; miễn thuế thu nhập cho các nguồn thu từ hoạt động khoa học công nghệ; cho phép các nhà khoa học công nghệ được hưởng lợi từ việc thương mại hoá các sản phẩm khoa học. Điều này thực sự tạo ra động lực lớn cho các nhà khoa học khi họ có thể yên tâm nghiên cứu và có thể làm giàu, nuôi sống bản thân và gia đình từ công tác nghiên cứu khoa học. Mặt khác, gắn kết quyền lợi của nhà khoa học với thương mại hoá sản phẩm cũng khiến cho các sản phẩm nghiên cứu được ứng dụng vào thực tế nhiều hơn.
Nghị quyết 57 coi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển đất nước, chuyển đổi từ tăng trưởng nâu sang tăng trưởng xanh. Khẳng định được vai trò, vị thế của khoa học công nghệ và đội ngũ nhà khoa học trong thời đại mới.
Tháo gỡ được nhiều cơ chế, thủ tục pháp lý: Nghị quyết 57 được ban hành thúc đẩy quá trình sửa đổi, bổ sung hàng loạt các văn bản quy định liên quan đến quản lý khoa học công nghệ, đầu tư công, mua sắm công,… theo chiều hướng tích cực, đơn giản hoá giúp giải phóng các nhà khoa học khỏi “mớ bòng bong” về thủ tục hành chính để tập trung hơn cho công tác nghiên cứu.
Mặt khác, Nghị quyết cũng tập trung quan tâm tới kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo thay vì quan tâm đến quy trình và quá trình thực hiện (cơ chế khoán sản phẩm).
Tóm lại, Nghị quyết 57 được coi là chìa khoá, động lực chính để thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số góp phần đưa đất nước phát triển bền vững, chuyển đổi mô hình kinh tế từ tuyến tính sang tuần hoàn, chuyển từ tăng trưởng nâu sang tăng trưởng xanh.
Chuyển đổi số: Nền tảng quản lý nông nghiệp và môi trường hiện đại
PV: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đô thị hoá và yêu cầu chuyển đổi số hiện nay, theo ông, Nghị quyết này có ý nghĩa như thế nào đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường?
PGS, TS. Trần Trọng Phương: Biến đổi khí hậu và quá trình đô thị hoá gây ra những sức ép rất lớn đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường. Lĩnh vực nông nghiệp và môi trường có phạm vi quản lý trên diện rộng và theo một chu kỳ thời gian kéo dài, việc chuyển đổi số theo tinh thần của Nghị quyết 57 tạo ra nhiều lợi ích to lớn, thúc đẩy hoạt động quản lý tốt hơn, cụ thể:
Nghị quyết giúp xây dựng được cơ sở dữ liệu (bigdata) cho phép khai thác và sử dụng một cách nhanh chóng, phục vụ việc phân tích, đánh giá về quản lý nông nghiệp và môi trường trên phạm vi toàn quốc, theo các chu kỳ và dự báo xu hướng trong tương lai.
Quá trình chuyển đổi số giúp giảm thiểu công lao động, tiết kiệm thời gian cho đội ngũ cán bộ quản lý và người dân nhờ các quy trình giải quyết trực tuyến (online), khai thác cơ sở dữ liệu số, lưu trữ hồ sơ, giấy tờ; truy xuất và khai thác dữ liệu…
Chuyển đổi số giúp việc liên kết, liên thông dữ liệu số liệu quản lý nông nghiệp và môi trường với các lĩnh vực khác có liên quan diễn ra nhanh, thuận lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phối hợp giữa các cơ quan ban ngành và quá trình ra quyết định.
PV: Chuyển đổi số trong quản lý đất đai và tài nguyên là một phần trọng tâm của Nghị quyết. Phó Giáo sư nhận định thế nào về việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên theo tinh thần của Nghị quyết 57?
PGS, TS. Trần Trọng Phương: Việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nông nghiệp và môi trường theo tính thần Nghị quyết 57 là đúng đắn và phù hợp với xu thế của thời đại. Đây có thể coi là nền tảng cốt lõi của chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, tạo nhiều lợi ích giúp nâng cao hiệu quả quản lý: Cung cấp thông tin đồng bộ, tập trung, nhanh chóng và chính xác từ cấp trung ương đến địa phương, giảm thiểu thời gian và tính trùng lặp dữ liệu.
Giúp các nhà lãnh đạo ra quyết định chính xác: cơ sở dữ liệu nông nghiệp và môi trường hỗ trợ tích cực cho chính quyền số, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho quá trình lập quy hoạch, kế hoạch, giúp các nhà lãnh đạo có đầy đủ các thông tin cần thiết để đưa ra các quyết định nhanh và chính xác hơn.
    |
 |
| Chuyển đổi số trong quản lý đất đai và tài nguyên là một phần trọng tâm của Nghị quyết 57-NQ/TW |
Tăng tính minh bạch, công bằng trong tiếp cận thông tin: cơ sở dữ liệu nông nghiệp và môi trường hỗ trợ tích cực cho dịch vụ công, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thông tin nhanh chóng, kịp thời và chính xác tạo tính công bằng, minh bạch giữa các bên liên quan.
Hệ thống cơ sở dữ liệu nông nghiệp và môi trường cung cấp các thông tin hữu ích về đất đai, nước, khí hậu thuỷ văn, chất lượng môi trường, khoáng sản, rủi ro thiên tai… phục vụ hữu ích cho quá trình phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế.
Từ giảng đường đến thực tiễn: Ứng dụng công nghệ 4.0
PV: Khoa Tài nguyên và Môi trường đang ứng dụng các công nghệ mới (như Viễn thám, GIS, AI) như thế nào để hiện thực hóa mục tiêu “đột phá” mà Nghị quyết đề ra?
PGS, TS. Trần Trọng Phương: Khoa Tài nguyên và Môi trường đã ứng dụng các công nghệ mới như viễn thám, GIS, AI rộng rãi trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao.
Khoa đã lồng ghép nội dung về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ mới vào các môn học và chương trình đào tạo: Các cấp từ đại học, cao học và tiến sĩ. Trong đó, các công nghệ như GIS, viễn thám, AI, Công nghệ trong đo đạc, Mô hình hóa không gian đất đai và môi trường, blockchain, IoT đã được cập nhật vào nội dung của nhiều môn học như: Viễn thám, hệ thống thông tin địa lý, công nghệ mới trong đo đạc bản đồ, UAV, hệ thống thông tin đất đai, quy hoạch đất đai, mô hình hoá môi trường, quản lý môi trường,… Nhằm cập nhật kiến thức cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh của Khoa nhanh chóng, hiệu quả.
    |
 |
| Khoa đã lồng ghép nội dung về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ mới vào các môn học và chương trình đào tạo |
Đầu tư trang thiết bị, phần mềm số cho các phòng thí nghiệm, phòng thực hành của Khoa nhằm phục vụ quá trình nghiên cứu khoa học, thực hành thực tập cho sinh viên, nghiên cứu viên và cán bộ giảng viên. Nhờ đó củng cố các kỹ năng thực tế cho người học và giảng viên về chuyển đổi số, ứng công nghệ hiện đại. Khoa cũng đẩy mạnh việc thực hiện các đề tài khoa học công nghệ các cấp về ứng dụng công nghệ GIS, viễn thám (RS), AI, IoT, machine learning, chuyển đổi số… nhằm nầng cao năng lực của đội ngũ cán bộ giảng viên của Khoa.
    |
 |
| Đầu tư trang thiết bị, phần mềm số cho các phòng thí nghiệm, phòng thực hành của Khoa |
Triển khai tiến bộ kỹ thuật: Khoa Tài nguyên và Môi trường phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường của các địa phương, các doanh nghiệp đối tác của khoa và người nông dân trong việc ứng dụng công nghệ số, công nghệ GIS, RS, IoT, AI,… vào quản lý tài nguyên và sản xuất trong thực tế như: Ứng dụng GIS và RS trong lập bản đồ, trích đo giải phóng mặt bằng, quy hoạch đất đai, quản lý rủi ro thiên tai; ứng dụng AI trong kiểm soát ô nhiễm môi trường, dự báo rủi ro thiên tai; IoT trong các hệ thống nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn giảm phát thải,…
Bên cạnh đó, Khoa đã hình thành và phát triển hệ thống các nhóm nghiên cứu theo hướng chuyên sâu, gồm 04 nhóm nghiên cứu mạnh, 01 nhóm nghiên cứu xuất sắc và 01 nhóm nghiên cứu tinh hoa, bao phủ các lĩnh vực trọng tâm trong đào tạo và nghiên cứu khoa học của Khoa. Đây là nền tảng quan trọng để triển khai hiệu quả các định hướng lớn của Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trên cơ sở bám sát các vấn đề thực tiễn của ngành, lĩnh vực và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, các nhóm đã chủ động đề xuất, xây dựng các định hướng nghiên cứu có tính liên ngành, tính mới và khả năng ứng dụng cao, từng bước chuyển từ cách tiếp cận thụ động sang chủ động kiến tạo ý tưởng nghiên cứu.
Đặc biệt, các nhóm nghiên cứu đã tích cực trong việc xây dựng và phát triển các đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, cấp Bộ, cấp Nhà nước, mở rộng hợp tác nghiên cứu với các địa phương, doanh nghiệp và đối tác quốc tế. Nhiều hướng nghiên cứu đã gắn trực tiếp với các vấn đề thời sự như quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, phát triển đô thị, chuyển đổi số trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu…. Các nhóm đã chú trọng công bố trên các tạp chí uy tín thuộc danh mục WoS, Scopus, góp phần nâng cao uy tín học thuật của Khoa, đồng thời khẳng định năng lực nghiên cứu trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
PV: Để đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết về “đột phá nguồn nhân lực” Khoa Tài nguyên và Môi trường đã có những điều chỉnh gì trong chương trình đào tạo để sinh viên có đủ năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số?
PGS, TS. Trần Trọng Phương: Khoa đã cập nhật, cải tiến các học phần liên quan đến chuyển đổi số và công nghệ mới trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường như: hệ thống thông tin đất đai (LIS), hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám, công nghệ số trong đo đạc bản đồ, quy hoạch đất đai, mô hình hoá không gian đất đai và môi trường, quản lý môi trường. Nội dung giảng dạy được thiết kế theo hướng tăng cường kỹ năng số, tư duy phân tích và năng lực xử lý dữ liệu cho sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh của Khoa.
    |
 |
| Khoa Tài nguyên và Môi trường đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp |
Ngoài ra, chương trình đào tạo được đổi mới theo hướng phát triển năng lực, tăng cường các học phần thực hành, đi khảo sát thực tế và thảo luận cụ thể các bài tập thực hành cụ thể gắn với ngành hiện nay. Người học được tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp cùng với các thầy cô trong Khoa, trong Học viện, tham gia xây dựng ý tưởng đổi mới sáng tạo, tham gia khởi nghiệp, qua đó hình thành tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn về lĩnh vực nông nghiệp, tài nguyên và môi trường trong bối cảnh hiện nay.
Khoa cũng đẩy mạnh hợp tác với các cơ quan quản lý Nhà nước, các doanh nghiệp và các trường Đại học Quốc tế có uy tín (Khoa Nông nghiệp, Đại học Yagamata-Nhật Bản; Khoa Nông nghiệp, Đại học Chiang Mai, Thái Lan; Khoa Địa lý, Đại học LMU và Viện địa lý, Đại học Hildesheim của CHLB Đức) để cập nhật nhu cầu thị trường lao động, trao đổi các hướng ứng dụng công nghệ số trong đào tạo, nghiên cứu khoa học. Đồng thời tạo điều kiện cho người học tiếp cận môi trường làm việc thực tế, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và năng lực thích ứng với chuyển đổi số. Thêm nữa, phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá được đổi mới theo hướng ứng dụng công nghệ số, tăng cường tương tác trong quá trình học tập.
Những điều chỉnh này góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ và thích ứng hiệu quả với yêu cầu phát triển trong thời kỳ chuyển đổi số.
PV: Nghị quyết 57 nhấn mạnh vào việc đưa doanh nghiệp thành trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo. Vậy Khoa đã có những giải pháp gì để thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường?
PGS, TS. Trần Trọng Phương: Trong Nghị quyết 57 doanh nghiệp được coi là Trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo chính vì vậy Khoa Tài nguyên và Môi trường đã có những giải pháp cụ thể để thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường, một số giải pháp cụ thể như:
Ký kết biên bản ghi nhớ, hợp tác với các doanh nghiệp trong đào tạo và nghiên cứu khoa học: Hàng năm khoa tổ chức các cuộc hội thảo, gặp gỡ trao đổi, chương trình phối hợp với nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường để cải tiến chương trình đào tạo, định hướng nghiên cứu khoa học cho sát với yêu cầu thực tế của thị trường lao động, nhu cầu của người sử dụng lao động.
    |
 |
| Ký kết biên bản ghi nhớ, hợp tác với các doanh nghiệp trong đào tạo và nghiên cứu khoa học |
Thực hiện triển khai các đề tài khoa học công nghệ, dự án phát triển theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp: Giải pháp này tạo ra chuỗi liên kết chặt chẽ giữa người cung ứng các giải pháp, tiến bộ kỹ thuật (Khoa), người kinh doanh các sản phẩm khoa học, công nghệ (doanh nghiệp) với những người ứng dụng các giải pháp, tiến bộ khoa học công nghệ: nông dân. Từ đó, các sản phẩm khoa học công nghệ được đưa vào phục vụ thực tiễn nhiều và hiệu quả hơn.
Đẩy mạnh hoạt động khởi nghiệp trong sinh viên có sự hỗ trợ của các doanh nghiệp: Hàng năm, Khoa khuyến khích sinh viên đề xuất các ý tưởng nghiên cứu khoa học, mô hình khởi nghiệp thông qua các cuộc thi, phong trào do Khoa, Học viện hoặc cơ quan nhà nước tổ chức. Trong các hoạt động này, Khoa luôn kêu gọi sự đầu tư, hỗ trợ của doanh nghiệp về cả kinh phí, cơ sở hạ tầng và kinh nghiệm thực tế cho sinh viên.
Mời doanh nghiệp tham gia vào các nhóm nghiên cứu khoa học của Khoa: Hiện tại, Khoa Tài nguyên và Môi trường có 01 nhóm nghiên cứu tinh hoa, 01 nhóm nghiên cứu xuất sắc và 05 nhóm nghiên cứu mạnh. Nòng cốt của các nhóm nghiên cứu này là cán bộ giảng viên, nghiên cứu sinh học viên cao học của Khoa.
Ngoài ra, mỗi nhóm đều có các thành viên đến từ các doanh nghiệp, trung tâm và viện nghiên cứu ngoài Học viện. Điều này góp phần giúp các hướng nghiên cứu, các sản phẩm của nhóm nghiên cứu được định hình rõ ràng và phù hợp hơn với thực tế. Sau khi nghiên cứu thành công có thể triển khai thí điểm và mở rộng tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất thực tế.
Đây là mô hình nghiên cứu gắn kết chặt chẽ giữa nhà khoa học với doanh nghiệp để dễ dàng thương mại hoá các sản phẩm làm ra. Bên cạnh đó, Khoa cũng khuyến khích các nhóm đăng ký sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu và phối hợp với doanh nghiệp để thương mại hoá sản phẩm.
“Cởi trói” cơ chế để khoa học công nghệ thực sự là đòn bẩy
PV: Theo Phó Giáo sư, làm thế nào để các nghiên cứu về bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên bền vững có thể trở thành đòn bẩy cho kinh tế số trong ngành nông nghiệp?
PGS, TS. Trần Trọng Phương: Trước hết chúng ta cần có một cơ sở dữ liệu số và cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu số quốc gia đồng bộ. Trong đó, để các nghiên cứu về bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên bền vững trở thành đòn bẩy cho kinh tế số trong nông nghiệp, theo tôi nên thực hiện các hoạt động sau:
Phát triển hệ thống các bản đồ số quốc gia trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, trên cơ sở đó ứng dụng công nghệ IoT, AI cập nhật và kết nối các dữ liệu quan trắc về chất lượng đất, nước, môi trường, khí tượng thuỷ văn, thiên tai,… để phục vụ trực tiếp cho công tác quy hoạch đất đai, chuyển đổi phát triển nông nghiệp; đánh giá và dự báo các rủi ro môi trường, thiên tai nhằm giảm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp; phân tích, đánh giá hệ thống dữ liệu đặc biệt là chất lượng đất, nước để lựa chọn các giống cây trồng phù hợp,…
    |
 |
| Phát triển hệ thống các bản đồ số quốc gia trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, trên cơ sở đó ứng dụng công nghệ IoT, AI cập nhật và kết nối các dữ liệu quan trắc về chất lượng đất, nước, môi trường, khí tượng thuỷ văn, thiên tai,… |
Từ cơ sở dữ liệu số về nông nghiệp và môi trường cần xây dựng các công cụ phân tích, đánh giá để cảnh báo sớm các diễn biến bất lợi của biến đổi khí hậu, môi trường, dịch bệnh,… đến sản xuất nông nghiệp, từ đó kịp thời đưa ra các biện pháp can thiệp nhằm giảm thiệt hại của thiên tai, biến đổi khí hậu, tai biến môi trường đến nông nghiệp.
Nghiên cứu khoa học cần tập trung phát triển nông nghiệp thông minh, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao để nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua việc tính toán và kiểm soát chi tiết các yếu tố đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất dựa trên bigdata, AI, Blockchain, IoT,…
Các nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường cần tập trung cho việc phát triển nguồn lực con người, cụ thể là đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng ứng dụng công nghệ số, công nghệ hiện đại phục vụ nền kinh tế số.
PV: Để Nghị quyết 57 thực sự đi vào đời sống, theo Phó Giáo sư, chúng ta cần những cơ chế “cởi trói” nào cho các nhà khoa học trong việc tự chủ nghiên cứu và khởi nghiệp sáng tạo?
PGS, TS. Trần Trọng Phương: Để Nghị quyết 57 đi vào đời sống, theo tôi cần tập trung giải quyết một số các vướng mắc sau:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế chính sách: Mặc dù Nghị quyết 57 đã được ban hành rõ ràng các quy định, văn bản pháp lý trước đó liên quan đến quản lý khoa học và các lĩnh vực liên quan (mua sắm công, đầu tư công, sở hữu trí tuệ,..) chưa được sửa đổi thống nhất đồng bộ nên cần phải rà soát để chỉnh sửa, bổ sung hoặc ban hành mới nhằm tạo sự đồng bộ cho hành lang pháp lý để Nghị quyết thực sự đi vào thực tế; để gạt bỏ tâm lý sợ trách nhiệm, sợ thay đổi, không dám thí điểm cơ chế mới tại một số địa phương, cơ quan Nhà nước; hoàn thiện cơ chế hỗ trợ hoạt động thương mại hoá các sản phẩm khoa học, công nghệ.
Thứ hai, hoàn thiện cơ sở hạ tầng số và hạ tầng thiết yếu: cần nâng cấp hạ tầng kỹ thuật (điện, internet, hạ tầng giao thông, cáp quang, hệ thống truyền tin,…) tại các địa phương nhằm mở đường cho quá trình chuyển đổi số diễn ra (đặc biệt là cấp xã, phường tới các tổ dân phố, thôn, xóm). Bên canh đó, cần xây dựng hoàn thiện hạ tầng số quốc gia như: Trung tâm khai thác dữ liệu, hệ thống mã định danh, hạ tầng kỹ thuật số để minh bạch hoá thông tin.
Thứ ba, phải đào tạo được nguồn lực con người chất lượng cao: Đào tạo đội ngũ nhân lực có chất lượng cao về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách thực vận hành, triển khai các nhiệm vụ về chuyển đổi số, đổi mới khoa học công nghệ,…
Cuối cùng, cần có một cơ chế hỗ trợ và tổ chức thực hiện thuận lợi, bài bản cho các hoạt động khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp. Ví dụ như: cần đơn giản hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án, hỗ trợ vay vốn tín dụng, hỗ trợ chính sách đất đai,... như vậy, Nghị quyết 57 thực sự đi vào cuộc sống.
PV: Trân trọng cảm ơn ông!
|
Năm 2026 Khoa Tài nguyên và Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam tuyển sinh 345 chỉ tiêu đại học các ngành:
HVN 15: Quản lý đất đai, Bất động sản và Môi trường: 265 chỉ tiêu
HVN 03: Khoa học đất (Khoa học đất và Quản trị tài nguyên đất): 10 chỉ tiêu
HVN 16: Khoa học Môi trường: 20 chỉ tiêu
HVN 22: Quy hoạch vùng và Đô thị: 50 chỉ tiêu
Chi tiết cụ thể thông báo tại đường link: https://vnua.edu.vn/thong-bao/thong-bao-tuyen-sinh-dai-hoc-he-chinh-quy-nam-2026-58432
|
https://nnmt.net.vn/