Trong nhiều thập kỷ, tăng trưởng kinh tế chủ yếu được đo lường bằng GDP, kim ngạch xuất khẩu hay quy mô đầu tư. Những chỉ tiêu này phản ánh kết quả của hoạt động kinh tế, nhưng chưa tính đầy đủ những tổn thất về tài nguyên và hệ sinh thái. Một cánh rừng bị thu hẹp, một vùng đất ngập nước biến mất hay một tầng nước ngầm suy giảm hiếm khi xuất hiện trong các bảng cân đối kinh tế, mặc dù chúng cung cấp những dịch vụ thiết yếu như điều tiết nguồn nước, hấp thụ carbon, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm thiểu thiên tai và duy trì sinh kế. Khi thiên nhiên chưa được ghi nhận là một loại tài sản, những tổn thất đó dễ trở thành các "chi phí vô hình" của quá trình phát triển.
Chính vì vậy, nhiều quốc gia đang chuyển từ tư duy quản lý tài nguyên sang quản trị vốn tự nhiên. Hạch toán vốn tự nhiên (Natural Capital Accounting - NCA) không chỉ là một phương pháp thống kê mà là công cụ giúp đo lường và quản lý thiên nhiên như một loại vốn quốc gia, tương tự vốn tài chính, vốn con người hay cơ sở hạ tầng. Cách tiếp cận này tạo cơ sở để các quyết định phát triển phản ánh đầy đủ hơn cả lợi ích kinh tế và chi phí môi trường.
Trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam đã từng bước tiếp cận Hệ thống hạch toán kinh tế - môi trường (SEEA) của Liên hợp quốc. Từ việc thống kê diện tích rừng, khoáng sản hay nguồn nước, trọng tâm hiện nay đã chuyển sang lượng hóa giá trị của tài sản môi trường và các dịch vụ hệ sinh thái. Nhiều nghiên cứu về hạch toán rừng, đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và hệ sinh thái đã được triển khai; một số địa phương cũng bước đầu đưa giá trị của rừng đầu nguồn, đất ngập nước, rừng ngập mặn và hệ sinh thái ven biển vào quá trình quy hoạch phát triển.
    |
 |
| PGS.TS. Nguyễn Mậu Dũng trình bày bài Tổng quan về hạch toán vốn tự nhiên và ứng dụng chính sách tại Hội thảo quốc tế “Đánh giá hệ sinh thái: Hướng tới nền kinh tế biển xanh bền vững" do Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường phối hợp với Quỹ Hanns Seidel Foundation (HSF) và Mạng lưới Đối tác Toàn cầu về Hạch toán Đại dương (GOAP) tổ chức tại Hà Nội ngày 25/06/2026 |
    |
 |
| Các thành viên tham gia hội thảo quốc tế “Đánh giá hệ sinh thái: Hướng tới nền kinh tế biển xanh bền vững" |
Trong bối cảnh Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, áp lực lên tài nguyên thiên nhiên ngày càng lớn. Nguồn nước ngầm tại nhiều đô thị suy giảm, đất nông nghiệp bị thoái hóa, đa dạng sinh học tiếp tục chịu tác động của chuyển đổi mục đích sử dụng đất và biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, những tổn thất này vẫn chưa được phản ánh đầy đủ trong các chỉ tiêu kinh tế truyền thống. Một địa phương có thể đạt mức tăng trưởng cao nhờ chuyển đổi diện tích lớn đất tự nhiên sang công nghiệp hoặc đô thị, nhưng nếu giá trị của rừng, đất ngập nước hay khả năng hấp thụ carbon không được tính đến, thì phần tăng trưởng đó có thể được tạo ra từ sự suy giảm vốn tự nhiên. Nói cách khác, chúng ta đang hạch toán tốt các dòng tài chính nhưng chưa hạch toán đầy đủ sự biến động của tài sản thiên nhiên.
Giá trị cốt lõi của hạch toán vốn tự nhiên không nằm ở việc tạo thêm các bảng thống kê, mà ở việc nâng cao chất lượng ra quyết định. Khi giá trị của rừng hay đất ngập nước được lượng hóa đầy đủ, nhà hoạch định chính sách có thể cân nhắc toàn diện hơn giữa lợi ích kinh tế trước mắt và chi phí lâu dài của việc suy giảm hệ sinh thái. Vì vậy, ngày càng nhiều quốc gia coi hạch toán vốn tự nhiên là nền tảng của quản trị phát triển, hướng tới tăng trưởng hiệu quả và bền vững.
Trong thế kỷ XXI, năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia ngày càng phụ thuộc vào chất lượng của vốn tự nhiên và khả năng duy trì các dịch vụ hệ sinh thái. Với lợi thế về rừng, đất ngập nước, vùng núi, biển và hải đảo, Việt Nam sở hữu nguồn vốn tự nhiên có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, kinh tế biển, năng lượng tái tạo, du lịch và thị trường carbon. Điều cần thiết hiện nay không chỉ là bảo vệ thiên nhiên bằng các cam kết, mà còn phải quản lý thiên nhiên trên cơ sở dữ liệu và bằng chứng khoa học. Khi vốn tự nhiên được đo lường đầy đủ, giá trị của thiên nhiên sẽ hiện diện trong hệ thống hạch toán quốc gia, quy hoạch phát triển và các quyết định đầu tư.
Đưa vốn tự nhiên vào hệ thống hạch toán quốc gia không chỉ là một yêu cầu kỹ thuật mà còn là bước chuyển trong tư duy phát triển. Đó là nền tảng để tăng trưởng kinh tế gắn với bảo tồn và phục hồi tài nguyên, bảo đảm rằng những thành quả của hôm nay không được đánh đổi bằng nguồn vốn thiên nhiên của các thế hệ mai sau.
PGS.TS. Nguyễn Mậu Dũng
Nhóm NCM Kinh tế và Quản lý Tài nguyên môi trường
Học viện Nông nghiệp Việt Nam