Sinh kế ven biển đang biến đổi dưới tác động của suy giảm nguồn lợi tự nhiên, biến đổi môi trường và áp lực thị trường. Trong bối cảnh đó, việc phân tích quan hệ giới và chiến lược sinh kế của các tác nhân trong chuỗi giá trị thủy sản có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận diện bất bình đẳng và đề xuất định hướng phát triển bền vững.
Nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn phát triển, đề tài trọng điểm cấp Học viện “Quan hệ giới và đa dạng sinh kế trong ngành thủy sản tại tỉnh Nam Định” (MS: NV2025–07-11TĐ), do Dự án Việt – Bỉ tài trợ, PGS.TS. Nguyễn Thị Diễn làm chủ nhiệm và các giảng viên Khoa Khoa học xã hội thực hiện với mục tiêu phân tích đặc điểm kinh tế – xã hội, quan hệ giới và khả năng tiếp cận nguồn lực của các tác nhân trong chuỗi giá trị thủy sản, từ đó cung cấp bằng chứng khoa học phục vụ hoạch định chính sách.
Thiết kế nghiên cứu và khảo sát thực địa
    |
 |
| Hoạt động phỏng vấn và thảo luận nhóm với người dân địa phương |
Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Giao Thủy (tỉnh Nam Định cũ) – khu vực ven biển có sự phát triển đa dạng các hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh – dịch vụ gắn với nghề cá. Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định lượng và định tính, bao gồm điều tra hộ gia đình, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và quan sát thực địa.
Kết quả nghiên cứu bước đầu và sản phẩm khoa học
Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy các hộ gia đình có quy mô trung bình khoảng 4 nhân khẩu, với 2–3 lao động chính. Độ tuổi lao động chủ yếu từ 40–55. Sinh kế mang tính đa dạng, trong đó khai thác và buôn bán thủy sản chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 49% tổng thu nhập), tiếp đến là nuôi trồng và các hoạt động bổ trợ.
Phân tích quan hệ giới cho thấy sự phân công lao động vẫn mang tính truyền thống. Nam giới chủ yếu tham gia hoạt động khai thác, đặc biệt là khai thác xa bờ (chiếm 80%), trong khi phụ nữ tập trung vào buôn bán, chế biến và làm công. Một số kiêng kỵ truyền thống trong nghề cá vẫn tồn tại, nhưng phụ nữ tham gia ngày càng chủ động trong các hoạt động đánh bắt gần bờ. Khoảng 70% phụ nữ tham gia các hoạt động tạo thu nhập bổ trợ, cao hơn đáng kể so với nam giới (10,9%). Điều này phản ánh vai trò quan trọng của phụ nữ trong duy trì sinh kế hộ gia đình. Tuy nhiên, quyền ra quyết định và khả năng tiếp cận nguồn lực như tín dụng và đào tạo kỹ thuật vẫn chủ yếu thuộc về nam giới, cho thấy những bất bình đẳng giới còn tồn tại.
    |
 |
| Phụ nữ tham gia các khâu trong chế biến hải sản |
    |
 |
| Phụ nữ thực hiện chính các hoạt động buôn bán hải sản |
Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản suy giảm và rủi ro nghề cá gia tăng, các hộ gia đình đã phát triển chiến lược đa dạng hóa sinh kế. Bên cạnh khai thác và nuôi trồng, nhiều hộ tham gia làm thuê, buôn bán nhỏ hoặc tận dụng các mạng lưới xã hội để duy trì và nâng cao thu nhập. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt đáng kể theo giới trong tiếp cận nguồn lực. Các hộ khai thác có xu hướng tiếp cận tín dụng chính thức nhiều hơn, trong khi phụ nữ và các hoạt động kinh tế nhỏ lẻ chủ yếu dựa vào nguồn vốn phi chính thức. Mặc dù vậy, phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong quản lý chi tiêu và tổ chức sinh kế hộ, góp phần nâng cao khả năng thích ứng của gia đình.
Từ các kết quả khảo sát và phân tích, đề tài đã đạt được một số kết quả và sản phẩm khoa học quan trọng :
- 02 báo cáo trình bày tại Hội nghị Khoa học trẻ toàn quốc ngành thủy sản (2025)
- 02 bài báo khoa học công bố bằng tiếng Anh
Trên cơ sở đó, nghiên cứu bước đầu đề xuất các định hướng như tăng cường tiếp cận tín dụng, nâng cao năng lực kỹ thuật, thúc đẩy vai trò của phụ nữ và lồng ghép yếu tố giới trong chính sách phát triển sinh kế bền vững.
Hàm ý chính sách và định hướng nghiên cứu tiếp theo
Các kết quả bước đầu cho thấy cần có cách tiếp cận tích hợp giữa phát triển sinh kế và bình đẳng giới trong ngành thủy sản. Việc nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực cho phụ nữ, đồng thời tăng cường năng lực thích ứng của hộ gia đình trước các rủi ro môi trường và thị trường, là những hướng đi cần được ưu tiên. Trong thời gian tới, đề tài sẽ tiếp tục hoàn thiện phân tích, mở rộng khảo sát và củng cố luận cứ khoa học nhằm đóng góp vào quá trình xây dựng chính sách phát triển thủy sản theo hướng bền vững.
Nhóm nghiên cứu đề tài