Nấm ăn và nấm dược liệu có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái và đời sống con người, do nấm có khả năng phân giải chất hữu cơ và có giá trị dinh dưỡng, dược liệu cao. Nhiều loài nấm có giá trị dinh dưỡng cao với hàm lượng protein lớn và đầy đủ thành phần axit amin không thay thế; đồng thời thành phần và hàm lượng dược liệu cũng vô cùng phong phú. Nấm ăn, nấm dược liệu tham gia vào vòng tuần hoàn có ích trong tự nhiên, là một trong những sinh vật có tiềm năng kinh tế, có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như làm thực phẩm, làm dược phẩm, mỹ phẩm, tách chiết enzyme, bảo vệ môi trường, thức ăn chăn nuôi, phân bón cây trồng.

Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi trồng nấm như nguồn nguyên liệu phụ từ ngành nông nghiệp, lâm nghiệp: rơm rạ, bông phế loại, mùn cưa, lõi ngô, thân ngô...rất phong phú, khí hậu nhiệt đới, thuận lợi cho nấm sinh trưởng, phát triển.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam, ngoài nhiệm vụ tham gia đào tạo, viện Nghiên cứu và Phát triển nấm ăn, nấm dược liệu còn đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, chọn tạo giống nấm và chuyển giao công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Công việc cực kỳ quan trọng để phục vụ tốt đào tạo và nghiên cứu là lưu giữ, khai thác sử dụng nguồn gen giống nấm.

leftcenterrightdel
 

Những năm qua, Học viện đã chọn tạo thành công nhiều giống nấm ăn, nấm dược liệu. Giai đoạn từ năm 2020- 2025 đã có 1 số giống nấm được Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép lưu hành cho các tỉnh phía Bắc và vùng Tây Nguyên, điển hình như giống nấm linh chi Ga-2; giống nấm vân chi Tra-2 (H-vnua), giống nấm đầu khỉ He-2; giống nấm linh chi Ga-5; giống nấm sò PN20; giống nấm Vân chi Tra-8.

leftcenterrightdel
 

Ga-2 là giống nấm linh chi đỏ, do nhóm nghiên cứu mạnh nấm ăn - nấm dược liệu thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu chọn tạo trong giai đoạn năm 2016-2020. Giống nấm linh chi Ga-2 đã được khảo nghiệm tác giả, khảo nghiệm có kiểm soát, khảo nghiệm giá trị canh tác và giá tri sử dụng (VCU); khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định (DUS, sản xuất thử nghiệm tại một số tỉnh phía Bắc và vùng Tây Nguyên. Giống linh chi Ga-2 cho năng suất cao và ổn định, hiệu suất sinh học nuôi trồng đạt từ 30 kg đến 32 kg nấm khô/tấn nguyên liệu; Hàm lượng polysaccarid trong quả thể đạt 0,702%; Acid Lucidenic N đạt 0,032%; Acid Ga-noderic A đạt 0,208%; Ga-nodermanontriol đạt 0,026%.

Giống nấm linh chi Ga-2 được Cục trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và PTNT cho phép đơn vị tự lưu hành theo thông báo số 1252/TB-TT-CLT ngày 20 tháng 10 năm 2020. Hiện nay nấm đang được nuôi trồng tại nhiều địa phương trong cả nước.

 

NẤM VÂN CHI Tra-2 (H-vnua)

Nấm vân chi (Trametes versicolor (L.) Loyd) là nấm có giá trị dược liệu cao. Trong nấm vân chi có chứa các hợp chất polysaccharid liên kết với protein, gồm hai loại chính: polysaccharide peptide (PSP) và polysaccharide krestin (PSK). PSP và PSK có tác dụng ức chế nhiều loại tế bào ung thư, nấm vân chi được sử dụng để làm giảm trầm cảm, giảm đờm, chữa lành rối loạn phổi, tăng cường vóc dáng và năng lượng, có ích với các bệnh mãn tính, ngăn ngừa HIV, tăng cường miễn dịch. Giống nấm vân chi Tra-2 (H-vnua) là sản phẩm của đề tài cấp thành phố Hà Nội, do nhóm nghiên cứu nấm ăn, nấm dược liệu tuyển chọn, đã và đang được nuôi trồng tại nhiều địa phương.

leftcenterrightdel
 

Điều kiện nhân giống và nuôi trồng nấm vân chi Tra-2 (H-vnua):

+ Môi trường nhân giống cấp 1: nước chiết của các sản phẩm hữu cơ tự nhiên (khoai tây, giá đỗ, nấm tươi), sau đó có bổ sung pepton, cao nấm men, MgSO4. 7H2O, đường glucose, chất làm đông môi trường là agar;

+ Môi trường nhân giống cấp 2: thóc tẻ có hàm lượng amilozơ cao; cùng chủng loại; không hóa chất; không mối mọt; bột CaCO3;

+ Giá thể nuôi trồng: mùn cưa tươi, khô của các loại gỗ mềm, không có tinh dầu và độc tố, không nhiễm hóa chất và dầu máy; thân lõi ngô nghiền; bông phụ phẩm; nguyên liệu trồng cần bổ sung thêm dinh dưỡng là cám gạo, cám mạch, bột ngô...

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng của hệ sợi nấm Vân chi trong khoảng 26-300C; Nhiệt độ thích hợp cho sự hình thành và phát triển của quả thể nấm Vân chi từ 20 - 250C;

+ Độ ẩm của giá thể: 62 - 65%;

+ Độ ẩm không khí: 85- 95%;

+ Ánh sáng: Giai đoạn nuôi sợi không cần ánh sáng; giai đoạn nuôi quả thể cần ánh sáng từ 800 - 1000 lux;

+ Nồng độ khí CO2 < 1000 ppm.

- Thời vụ nuôi trồng:

+ Đối với các tỉnh miền Bắc: thời vụ từ tháng 10 dương lịch năm trước đến tháng 3 dương lịch năm sau; các tỉnh Tây nguyên nuôi trồng quanh năm.

Kết quả khảo nghiệm sản xuất: Qua các vụ sản xuất thử cho thấy giống nấm nấm Vân chi Tra-2 (H-vnua) có năng suất ổn định từ 38-41 kg nấm khô/ 1tấn nguyên liệu, cao hơn giống cùng khảo nghiệm trên 21%;

Quả thể sử dụng ở dạng sấy khô (độ ẩm ≤ 12%).

Bên cạnh nấm linh chi, nấm vân chi thì nấm đầu khỉ He-2 cũng là loại nấm dược liệu quý chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng và chứa một số chất có hoạt tính sinh học có tác dụng tốt đối với sức khỏe con người, do đó chúng vừa có giá trị sử dụng làm thực phẩm, vừa được sử dụng làm thuốc để phòng bệnh và nâng cao sức đề kháng.

   Hệ sợi nấm đầu khỉ He-2: Khi còn non hệ sợi có màu trắng đồng nhất, hệ sợi mờ, thưa. Khi hệ sợi trưởng thành chuyển màu trắng đậm hơn, mật độ hệ sợi cao, dày lên; Khi hệ sợi già thường tạo các mô sẹo trên bề mặt giá thể, là mầm mống của quả thể nấm.

Quả thể nấm đầu khỉ He-2: Khi còn non có dạng tròn, khi trưởng thành quả thể thường có dạng hình cầu, hoặc bán cầu dẹt, kích thước 5 - 15cm, gồm 1 hoặc nhiều các múi thịt nấm ghép lại với nhau, phần thịt nấm mềm, xốp, có tua nấm dày đặc, rũ xuống. Quả thể nấm mọc riêng rẽ, thịt quả thể nấm khi non màu trắng sữa, khi già nấm ngả sang trắng ngà, phần tua nấm dài và chuyển sang màu vàng trông như bờm sư tử. Trên bề mặt các tua nấm phân bố dày đặc các đảm bào tử trắng.

GIỐNG NẤM LINH CHI Ga-5

Giống nấm linh chi Ga-5 do nhóm tác giả thuộc nhóm nghiên cứu mạnh nấm ăn, nấm dược liệu nghiên cứu, được Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn chấp nhận Hồ sơ xin phép đơn vị tự lưu hành và được đăng tải lên cổng thông tin điện tử của Cục vào tháng 8/2025. Phạm vi lưu hành giống nấm: Vùng trung du và miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ và vùng Tây Nguyên.

Đặc điểm của sinh trưởng của giống nấm linh chi Ga-5:

Giai đoạn sợi: Sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ phòng nuôi từ 25-280C, độ ẩm không khí 65-75%, không cần ánh sáng.

Giai đoạn quả thể: giống nấm linh chi Ga-5 có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện nhà có mái che, thông thoáng, nhiệt độ 23-300C, độ ẩm không khí 80-90%, ánh sáng 500-1000lux.

* Thời gian nhân giống và nuôi trồng:

Thời gian nhân giống cấp 1 từ 16-20 ngày; thời gian nhân giống cấp 2 từ 22-25 ngày; thời gian nhân giống cấp 3 từ 25-28 ngày.

Thời gian nuôi trồng: Thời gian nuôi sợi trên bịch giá thể nuôi trồng kéo dài 25- 30 ngày. Thời gian ra quả thể tính từ khi cấy giống nấm đến khi ra quả lần 1 từ 30-35 ngày; thời gian ra quả thể giữa 2 lần thu hái cách nhau 8 -12 ngày, mỗi đợt nuôi trồng sẽ thu hái 2-3 lần.

* Năng suất: Năng suất ≥ 35 kg nấm khô/tấn nguyên liệu khô.

Quả thể nấm linh chi Ga-5 mọc đơn lẻ, cuống nấm dài, tán nấm tròn, mặt trên màu vàng lưu huỳnh đến nâu đỏ, mặt dưới màu vàng nghệ, thịt nấm chất gỗ.

Nấm linh chi Ga-5 là loại nấm dược liệu, vị đắng, trong nấm chứa một số chất có hoạt tính sinh học có tác dụng tốt đối với sức khỏe.        

leftcenterrightdel
 

Các giống nấm gồm giống nấm linh chi Ga-2; giống nấm vân chi Tra-2 (H-vnua), giống nấm đầu khỉ He-2; giống nấm linh chi Ga-5; giống nấm sò PN20; giống nấm Vân chi Tra-8, được cho phép lưu hành trong giai đoạn 2020 2025 là kết quả của sự cố gắng không ngừng, đổi mới sáng tạo trong công tác nghiên cứu, chọn tạo giống nấm của nhóm các nhà nghiên cứu tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Sự hỗ trợ kịp thời về cơ sở vật chất, hạ tầng, cơ chế của Học viện Nông nghiệp Việt Nam và nguồn lực tài chính thông qua đề tài/dự án của các Bộ/Ban/Ngành, và địa phương là động lực để nhóm các nhà khoa học yên tâm nghiên cứu, đào đạo, đóng góp cho xã hội.

leftcenterrightdel
leftcenterrightdel
 
leftcenterrightdel
 

Học viện Nông nghiệp Việt Nam rất mong được sự hợp tác, đồng hành cùng doanh nghiệp và địa phương để tiếp tục phát triển, mở rộng quy mô, vùng sinh thái nuôi trồng nấm, góp phần nâng cao năng suất và thu nhập từ ngô cho bà con nông dân. Cùng với đó, sự hỗ trợ về nguồn lực tài chính thông qua các đề tài/dự án, và ủng hộ về cơ chế, chính sách của các Bộ/Ban/Ngành và các cơ quan hữu quan là yếu tố quan trọng giúp Viện đẩy mạnh hơn nữa các chương trình chọn tạo, phát triển các giống nấm ăn, nấm dược liệu mới, đóng góp thiết thực, hiệu quả và góp phần hiện thực hóa chủ trương tự chủ, tự lực, tự cường trong công tác chọn tạo, sản xuất hạt giống của ngành Nông nghiệp Việt Nam.

Ban Khoa học và Công nghệ