CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ TIẾN SĨ
Ngành: Quản lý kinh tế, Mã số: 9.31.01.10
I. THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
1.1. Một số thông tin cơ bản về Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1.1.1 Lịch sử hình thành phát triển của Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Học viện Nông nghiệp Việt Nam tiền thân là Trường Đại học Nông Lâm được thành lập ngày 12/10/1956 theo Nghị định số 53/NĐ-NL của Bộ Nông Lâm, là 1 trong 3 trường đại học đầu tiên của nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” được thành lập sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc.
Khi mới thành lập, Trường trực thuộc Bộ Nông Lâm, có 3 khoa với 4 chuyên ngành đào tạo: Khoa Nông học, Khoa Chăn nuôi Thú y, Khoa Lâm học. Sau 2 năm thành lập, tháng 12/1958, Chính phủ ra Quyết định sáp nhập Viện Khảo cứu trồng trọt, Viện Khảo cứu chăn nuôi, Phòng Nghiên cứu gỗ, Phòng Nghiên cứu Lâm sinh với Trường Đại học Nông Lâm thành Học viện Nông Lâm nhằm tập trung sức lực, trí tuệ của cán bộ và khả năng sử dụng hiệu quả trang thiết bị, đồng thời gắn liền hoạt động đào tạo với nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất.
Đến năm 1963, trước đòi hỏi mới của đất nước, Học viện Nông Lâm được tách ra thành Trường Đại học Nông nghiệp và Viện Khoa học Nông nghiệp. Đầu năm 1963, Trường Đại học Nông nghiệp đã có 5 khoa với 10 chuyên ngành đào tạo. Số lượng sinh viên đã lên tới trên 3000. Ngày 14/8/1967, Chính phủ ra quyết định đổi tên Trường Đại học Nông nghiệp thành Trường Đại học Nông nghiệp I
Năm 1977, Trường được Chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo Phó tiến sĩ, mở đầu cho việc đào tạo sau đại học của Trường. Năm 1984, Trường Đại học Nông nghiệp I chuyển từ Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm sang Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp quản lý.
Ngày 6/9/2004, Trường Đại học Nông nghiệp I được Chính phủ công nhận là một trong 14 trường trọng điểm Quốc gia. Ngày 24/03/2008 Thủ tướng CP ra QĐ (283/QĐ-TTg) đổi tên Trường Đại học Nông nghiệp I thànhTrường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Ngày 28/3/2014, Học viện Nông nghiệp Việt Nam được thành lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên cơ sở tổ chức lại Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội theo Quyết định 441/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Ngày 17/6/2015, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 873/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của Học viện Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2015 – 2017 với mục tiêu chung là Học viện chủ động khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực để đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, phấn đấu trở thành Đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực theo các chuẩn mực khu vực và quốc tế; đồng thời bảo đảm các đối tượng chính sách, đối tượng thuộc hộ nghèo có cơ hội học tập tại Học viện.
1.1.2 Sứ mạng tầm nhìn của Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tầm nhìn: Học viện là đại học tự chủ, đa ngành, đa phân hiệu theo mô hình của đại học nghiên cứu tiên tiến trong khu vực; trung tâm xuất sắc của quốc gia, khu vực về đổi mới sáng tạo trong đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, ứng dụng tri thức và phát triển công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Sứ mạng: Học viện là trung tâm đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, và chuyển giao tri thức mới về nông nghiệp và phát triển nông thôn, và các lĩnh vực khác có liên quan; đóng góp đắc lực và hiệu quả vào công cuộc phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và hội nhập quốc tế của đất nước.
Giá trị cốt lõi: Học viện không ngừng phấn đấu để tạo ra “Văn hoá Học viện Nông nghiệp Việt Nam” với 5 giá trị cốt lõi theo triết lý: Đoàn kết: đoàn kết chặt chẽ, cố gắng không ngừng để tiến bộ mãi; Đạo đức: trên nền tảng đạo đức tiến bộ và đậm bản sắc văn hoá Việt Nam; Đi đầu: đi đầu về đào tạo, khoa học, công nghệ và phụng sự xã hội; Đáp ứng: đáp ứng nhu cầu không ngừng phát triển của xã hội; Đẳng cấp: khẳng định tầm vóc và vị thế bằng các sản phẩm có đẳng cấp vượt trội.
Triết lý giáo dục của Học viện: RÈN LUYỆN HUN ĐÚC NHÂN TÀI NÔNG NGHIỆP: RÈN tư duy sáng tạo; LUYỆN kỹ năng thành thạo; HUN tâm hồn thanh cao; ĐÚC ý chí lớn lao; THÀNH nhân tài nông nghiệp
1.1.3. Cơ cấu tổ chức
Đảng ủy chỉ đạo các hoạt động chung của học viện. Hội đồng đồng học viện gồm các thành viên trong và ngoài Học viện tư vấn cho hoạt động của học viện. Ban giám đốc gồm 4 thành viên trực tiếp chỉ đạo và tổ chức các hoạt động của học viện
    |
 |
| Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Học viện |
Học viện có 14 khoa; 17 đơn vị chức năng; 25 đơn vị nghiên cứu khoa học, đào tạo và phục vụ đào tạo, sản xuất, dịch vụ thuộc Học viện gồm các Viện, Trung tâm và Công ty. Hệ thống các đơn vị đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ có sự liên thông, liên kết hữu cơ và có quy mô phù hợp với bối cảnh phát triển hiện nay của Học viện.
Xét về cơ cấu số lượng đội ngũ: Tổng số viên chức và người lao động là 1.262 người (có 244 người do đơn vị chi trả lương), gồm 728 viên chức và 534 hợp đồng lao động, trong đó có 865 giảng viên, nghiên cứu viên/kỹ sư (có 88 người có chức danh Giáo sư (GS) và Phó giáo sư (PGS) (7 GS, 81 PGS), 368 người trình độ tiến sĩ và Gần 100 giảng viên thỉnh giảng.
Xét về chất lượng phát triển đội ngũ: Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trên tổng số giảng viên đạt 59%; Tỷ lệ giảng viên có chức danh GS, PGS trên tổng số giảng viên cơ hữu đạt 15%; Tỷ lệ giảng viên và các chức danh tương đương (chuyên môn, nghiệp vụ) trên tổng số viên chức và người lao động trong toàn Học viện là 89%, đáp ứng tỷ lệ quy định tại Nghị quyết số 19- NQ/TW (tối thiểu 65%). Trung bình số công trình khoa học công bố trên tổng số giảng viên toàn thời gian trong năm 2024 trên hệ thống Hemis: Số công bố khoa học/ giảng viên đạt 0,74; Số công bố WoS, Scopus/ giảng viên đạt 0,31 đều cao hơn so với ngưỡng chuẩn theo qui định đạt chuẩn.
1.1.3 Lĩnh vực hoạt động và giá trị cam kết mục tiêu chiến lược
Đào tạo
Học viện đào tạo 44 ngành đào tạo trình độ đại học chính quy và vừa làm vừa học, 16 ngành đào tạo trình độ thạc sĩ và 16 ngành đào tạo trình độ tiến sĩ. Bậc đại học có 06 chương trình đào tạo dạy và học bằng tiếng Anh. Các chương trình đào tạo đại học được xây dựng linh hoạt, đa dạng hóa các loại hình và phương thức đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và điều kiện học tập khác nhau của người học. Phương pháp dạy và học luôn được đổi mới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp với chuẩn đầu ra và giúp người học có khả năng tự học suốt đời;
Học viện chủ trương gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội; Xác định nhu cầu xã hội về ngành nghề đào tạo, yêu cầu chất lượng người tốt nghiệp, lấy ý kiến phản hồi về nội dung và phương pháp đào tạo; và đẩy mạnh hội nhập quốc tế về đào tạo, tăng cường và mở rộng đào tạo bằng tiếng nước ngoài, mở rộng hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước để huy động tối đa nguồn lực phục vụ đào tạo.
Tính tới tháng 6 năm 2025, Học viện đang quản lý và đào tạo 27.309 sinh viên, 825 học viên cao học và 102 nghiên cứu sinh. Từ khi thành lập đến nay, đã có trên 120.000 sinh viên, 14.000 thạc sĩ và 700 tiến sĩ tốt nghiệp từ Học viện.
Khoa học và Công nghệ
Trong giai đoạn 2020-2024, Học viện đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và thúc đẩy ứng dụng thực tiễn trong nông nghiệp và các lĩnh vực liên quan.
Hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện cũng ghi dấu ấn với hơn 3.300 bài báo khoa học được công bố với 2160 bài báo trong nước; trên 1140 bài báo quốc tế, trong đó hơn 73% bài báo xuất bản trên các tạp chí thuộc danh mục WoS/Scopus. Đây là minh chứng cho chất lượng nghiên cứu và sự hội nhập mạnh mẽ của Học viện vào nền khoa học thế giới.
Học viện thực hiện chính sách phát huy nội lực đẩy mạnh nghiên cứu, khuyến khích hoạt động đổi mới khoa học và công nghệ, thúc đẩy ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội như: thành lập các nhóm nghiên cứu tinh hoa, xuất sắc, nhóm nghiên cứu mạnh; từng bước hình thành doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ; ban hành các quy định khuyến khích, khen thưởng trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo. Học viện đã ký kết nhiều hợp đồng nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ với các địa phương và doanh nghiệp trên toàn quốc.
Hợp tác quốc tế
Học viện luôn chú trọng mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và hội nhập toàn cầu. Hiện nay, Học viện đã thiết lập quan hệ hợp tác với hơn 130 trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức quốc tế đến từ nhiều quốc gia trên thế giới như Bỉ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Ailen, Italia, Áo, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Israel, Australia, ...
Trong giai đoạn 2020-T6/2025, Học viện đã quản lý và triển khai 92 chương trình, dự án, đề tài hợp tác quốc tế với tổng số tiền ước đạt trên 400 tỷ đồng, bao gồm cả nguồn vốn nước ngoài và vốn đối ứng của phía Việt Nam. Các chương trình hợp tác này không chỉ thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học mà còn mở ra nhiều cơ hội trao đổi học thuật, nâng cao chất lượng giảng dạy và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Học viện cũng tích cực tham gia vào các chương trình liên kết đào tạo, trao đổi sinh viên và cán bộ. Trong giai đoạn này, Học viện đã tiếp nhận và đào tạo 125 lưu học sinh trong đó 114 lưu học sinh thuộc diện Hiệp định và 11 lưu học sinh thuộc diện ngoài Hiệp định đến từ nhiều quốc gia như Lào, Campuchia, Mozambique, Angola, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, v.v. Đồng thời, gần 400 sinh viên của Học viện đã được cử đi thực tập, thực hành tại nước ngoài, trong khi hàng trăm lượt cán bộ có cơ hội tham gia các hội nghị khoa học, chương trình trao đổi học thuật quốc tế.
1.2. Thông tin cơ bản về đơn vị phụ trách chuyên môn- Khoa Kinh tế và Quản lý
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển.
Khoa Kinh tế và Quản lý được thành lập vào năm 1961 với tên gọi là Kinh tế nông nghiệp, sau đó được đổi thành Kinh tế và Phát triển nông thôn năm 1996. Từ tháng 9/2024 một lần nữa Khoa đổi sang tên mới là Kinh tế và Quản lý để phù hợp với định hướng đào tạo đa ngành kinh tế-quản lý đáp ứng nhu cầu xã hội.
Với gần 65 năm xây dựng và phát triển, Khoa KT&QL đã trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học (NCKH) có uy tín trong nước và khu vực. Hiện tại, Khoa KT&QL có 06 bộ môn và 01 tổ văn phòng (Hình 2). Khoa có đội ngũ trợ lý hỗ trợ các hoạt động của Khoa (trợ lý tổ chức; trợ lý đào tạo đại học; trợ lý đào tạo sau đại học, khoa học và Hợp tác quốc tế (HTQT); trợ lý cơ sở hạ tầng và quản lý thông tin). Khoa còn có các tổ chức đoàn thể của thành viên trong Khoa (Công đoàn, chi đoàn cán bộ) và của sinh viên (Liên chi Hội sinh viên, Liên chi Đoàn).
    |
 |
| Hình 2: Sơ đồ tổ chức của Khoa Kinh tế và Quản lý |
1.2.2 Tầm nhìn và sứ mệnh của Khoa KT&QL
Tầm nhìn:
Đến năm 2035, Khoa KT&QL trở thành một đơn vị đào tạo và nghiên NCKH hàng đầu trong nước và ngang tầm khu vực, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, các sản phẩm và dịch vụ KHCN có uy tín trong lĩnh vực kinh tế, kinh tế nông nghiệp, QLKT, quản lý nguồn nhân lực và phát triển nông thôn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số sâu rộng, toàn diện.
Sứ mạng của Khoa
Sứ mạng của Khoa KT&QL là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu sáng tạo, phát triển và chuyển giao tri thức khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực kinh tế, kinh tế nông nghiệp, QLKT, quản lý nguồn nhân lực và phát triển nông thôn, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường của Việt Nam và quốc tế.
Giá trị cốt lõi
Giá trị cốt lõi của Khoa Hợp tác-Sáng tạo-Chuyên nghiệp
Triết lý giáo dục của Khoa là học bằng trải nghiệm sáng tạo có trách nhiệm
1.2.3 Nhiệm vụ của Khoa Kinh tế và Quản lý
Chức năng, nhiệm vụ chính của Khoa đó là:
1) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao trong lĩnh vực kinh tế, quản lý kinh tế, kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, bao gồm trình độ đại học, thạc sỹ, tiến sỹ và đào tạo ngắn hạn theo yêu cầu của xã hội.
2) Tổ chức và triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học về kinh tế, quản lý và phát triển trong nông nghiệp, nông thôn hướng tới phát triển bền vững.
3) Cung cấp các dịch vụ tư vấn, chuyển giao khoa học và công nghệ trong lĩnh vực kinh tế, quản lý và phát triển trong nông nghiệp, nông thôn theo yêu cầu của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tổ chức quốc tế, các địa phương và các thành phần kinh tế.
Về đào tạo
Khoa đang có 7 ngành đào tạo Đại học đó là 1) Kinh tế nông nghiệp, 2) Kinh tế, 3) Kinh tế đầu tư, 4) Kinh tế tài chính, 5) Quản lý kinh tế, 6) Quản lý và phát triển nguồn nhân lực, 7) Kinh tế số; có 3 chuyên ngành đào tạo Thạc sĩ: 1) Kinh tế nông nghiệp, 2) Phát triển nông thôn và 3) Quản lý kinh tế; 3 chuyên ngành Tiến sĩ đó là 1) Kinh tế nông nghiệp, 2) Kinh tế phát triển và 3) Quản trị nhân lực,
Khoa hiện quản lý 2500 sinh viên ĐH chính quy, hơn 300 học viên SĐH là học viên cao học và NCS. Khoa là một trong các khoa có số lượng sinh viên các ngành, các bậc đào tạo khá ổn định. Đặc biệt là ngành đào tạo thạc sĩ quản lý kinh tế, là ngành thu hút số lượng học viên học cao nhất trong học viện
Bên cạnh các ngành đào tạo thông thường Khoa còn có 2 chương trình đào tạo chất lượng cao đó là Kinh tế Nông nghiệp chất lượng cao và Kinh tế Tài chính chất lượng cao dạy bằng tiếng Anh với chương trình đạt chuẩn quốc tế và khu vực.
Ngoài đào tạo dài hạn chính quy, khoa còn đào tạo các lớp vừa làm vừa học, thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn tại Học viện và các địa phương.
Hàng năm, Khoa KT&QL chào đón sinh viên từ nhiều quốc gia như Lào, Campuchia, Nhật Bản, Angola đến học tập với các chương trình toàn thời gian và ngắn hạn khác nhau. Ngoài ra, Khoa KT&QL cũng tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn về QLKT và đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ chính quyền địa phương và các doanh nghiệp. Định hướng của Khoa trong giai đoạn tới là đa dạng hóa các ngành đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội ở trong nước và quốc tế.
Nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế
Ngoài các bộ môn, Khoa hiện có 4 nhóm nghiên cứu mạnh là (1) Chính sách nông nghiệp, (2) Kinh tế và Quản lý tài nguyên môi trường; (3) Quản lý phát triển nông thôn, (4) Liên kết kinh tế và Phát triển thị trường. Các nhóm nghiên cứu mạnh này thực hiện các nghiên cứu, tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn, cung ứng các dịch vụ tư vấn theo yêu cầu của xã hội.
Trong 5 năm qua (6/2020 – 6/2025), các giảng viên trong khoa đã chủ trì thực hiện 01 đề tài cấp nhà nước, 13 đề tài cấp bộ và tương đương, 06 đề tài quốc tế, 21 đề tài cấp cơ sở và tham gia nhiều đề tài nghiên cứu với các đơn vị trong nước và quốc tế khác. Đội ngũ giảng viên trong Khoa cũng không ngừng đẩy mạnh việc công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí có uy tín ở trong nước và quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của Khoa và của Học viện trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Về hợp tác quốc tế, Khoa cũng có quan hệ hợp tác với nhiều trường ĐH tiên tiến trong khu vực và trên thế giới như trường ĐH Kyushu (Nhật Bản), ĐH Sydney (Úc), ĐH Tây Úc (Úc). Hàng năm có nhiều sinh viên quốc tế đến học tập ngắn hạn và dài hạn tại Khoa.
Đối với ngành Quản lý kinh tế đang được đào tạo bậc đại học (bắt đầu tuyển sinh năm 2018) và Cao học (tuyển sinh năm 2012) đã cung cấp hơn 1000 thạc sĩ, cử nhân có trình độ cho thị trường lao động. Nguồn nhân lực được đào tạo ở Học viện tính tới hết năm 2024, khoảng 1000 học viên cao học ngành Quản lý kinh tế tốt nghiệp từ Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Số thạc sĩ tốt nghiệp này có nhu cầu đào tạo nâng cao lên trình độ tiến sĩ khá lớn. Đây là nguồn lực đầu vào tiềm năng cho chương trình đào tạo tiến sĩ ngành Quản lý kinh tế.
Đối với khoa Kinh tế và Quản lý, chất lượng đào tạo cũng luôn được duy trì. Khoa đã thực hiện kiểm định thành công AUN ngành KTNN (2022), ngành Kinh tế đầu tư (2024) và vừa hoàn thành kiểm định 3 chương trình Kinh tế đầu tư, Quản lý kinh tế, Quản lý và phát triển nguồn nhân lực vào đầu tháng 9/2025 với kết quả tốt.
II. CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
2.1 Mô tả chung về chương trình
Tên chương trình bằng tiếng Việt: Tiến sĩ Quản lý kinh tế
Tên chương trình bằng tiếng Anh: Doctoral in Economic Management
Tên viết tắt của chương trình: TS. QLKT
Nhóm ngành: Kinh tế học/Quản lý kinh tế
Mã số 931 0110
Hình thức đào tạo: Chính quy
Ngôn ngữ đào tạo: Tiếng Việt, tiếng Anh
Thời gian đào tạo: thời gian đào tạo tiêu chuẩn của trình độ tiến sĩ là 4 năm (48 tháng) đối với nghiên cứu sinh có bằng tốt nghiệp thạc sĩ. Thời gian đào tạo được tính từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh chính thức cho đến thời điểm hoàn thành các thủ tục trình luận án để gửi phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh được phép hoàn thành chương trình đào tạo sớm hơn so với kế hoạch học tập nghiên cứu toàn khóa nhưng không quá 1 năm hoặc chậm hơn so với kế hoạch học tập nghiên cứu toàn khóa nhưng tổng thời gian đào tạo không vượt quá 6 năm.
2.2. Triết lý đào tạo
Chương trình đào tạo Tiến sĩ ngành Quản lý kinh tế tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam đặt con người — tri thức — bền vững làm trung tâm. Chương trình hướng tới đào tạo những nhà khoa học và lãnh đạo quản lý có năng lực nghiên cứu độc lập và tư duy phản biện, am hiểu sâu sắc về phát triển kinh tế xã hội nói chung và kinh tế nông nghiệp, kinh tế vùng và chính sách công, đồng thời có khả năng thiết kế và vận dụng giải pháp quản lý đổi mới để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số.
Chương trình kết hợp nền tảng lý thuyết vững chắc với nghiên cứu ứng dụng gắn kết thực tiễn, khuyến khích hợp tác đa ngành, quốc tế hóa và đạo đức nghề nghiệp, nhằm đóng góp trực tiếp cho cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức phát triển và cộng đồng.
2.3 Mục tiêu đào tạo
2.3.1 Mục tiêu chung:
Chương trình đào tạo tiến sĩ ngành Quản lý Kinh tế nhằm đào tạo các nhà khoa học và chuyên gia có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo tri thức mới góp phần phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận về quản lý kinh tế; có khả năng phân tích, đánh giá và giải quyết các vấn đề phức tạp trong thực tiễn quản lý kinh tế; có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tư duy khoa học, khả năng làm việc nhóm, hợp tác và lãnh đạo hiệu quả đáp ứng yêu cầu công tác trong các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, cơ sở nghiên cứu, giảng dạy, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và các tổ chức kinh tế – xã hội trong và ngoài nước
2.3.2. Mục tiêu cụ thể:
Mục tiêu 1: Trang bị cho người học hệ thống kiến thức chuyên sâu, hiện đại và toàn diện trong lĩnh vực quản lý kinh tế; hình thành tư duy nghiên cứu độc lập, sáng tạo; phát triển và hoàn thiện các nguyên lý, lý thuyết về quản lý kinh tế; có khả năng vận dụng tổng hợp tri thức về kinh tế, quản lý và phát triển để giải quyết hiệu quả các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội.
Mục tiêu 2: Giúp người học phát triển năng lực toàn diện trong phân tích và tư duy hệ thống; có khả năng phát hiện, phân tích, phản biện và đề xuất các giải pháp khoa học cho những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quản lý kinh tế.
Mục tiêu 3: Trang bị kỹ năng quản lý, năng lực giao tiếp và trao đổi học thuật trong môi trường liên ngành, trong nước và quốc tế; nâng cao khả năng hội nhập và hợp tác trong nghiên cứu và quản lý kinh tế hiện đại.
Mục tiêu 4: Hình thành phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tác phong khoa học, tính nghiêm túc và trung thực trong nghiên cứu và quản lý; có năng lực nghiên cứu độc lập, đề xuất sáng kiến và đánh giá giá trị của các giải pháp mới; đồng thời có khả năng lãnh đạo, ra quyết định sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội.
2.4 Chuẩn đầu ra (CĐR) mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp
Hoàn thành chương trình đào tạo ngành Quản lý kinh tế trình độ tiến sĩ, người học có kiến thức, kỹ năng, năng lực tự chủ và trách nhiệm sau:
2.4.1. Kiến thức
- CĐR1: Vận dụng thành thạo phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học để phân tích, đánh giá và giải quyết các vấn đề thực tiễn trong lĩnh vực quản lý kinh tế;
- CĐR2: Vận dụng sáng tạo các kiến thức, nguyên lý và công cụ chuyên sâu, hiện đại trong lĩnh vực quản lý kinh tế để luận giải, phát triển và hoàn thiện các vấn đề lý luận và thực tiễn;
- CĐR3: Tích hợp và vận dụng tổng hợp kiến thức liên ngành (phân tích chính sách kinh tế xã hội, quản trị địa phương, phát triển bền vững, chuyển đổi số và hội nhập …) nhằm đề xuất các giải pháp quản lý kinh tế bền vững và hiệu quả.
2.4.2. Kỹ năng
- CĐR4: Sử dụng thành thạo ngoại ngữ trong giao tiếp, nghiên cứu và trao đổi học thuật chuyên ngành quản lý kinh tế; viết, phản biện và trình bày kết quả nghiên cứu trong các hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế;
- CĐR5: Phối hợp hiệu quả trong làm việc nhóm, thể hiện kỹ năng giao tiếp, thuyết trình và hiểu biết văn hóa trong môi trường đa ngành, đa văn hóa; thích ứng linh hoạt với bối cảnh quản trị toàn cầu, công nghệ số và đổi mới sáng tạo;
- CĐR6: Phân tích, đánh giá, dự báo và đề xuất được chính sách, giải pháp quản lý kinh tế phù hợp với điều kiện phát triển trong nước và quốc tế;
- CĐR7: Thiết kế, triển khai, tư vấn và đánh giá các chương trình, dự án kinh tế – xã hội; thực hiện nghiên cứu và chuyển giao tri thức có giá trị học thuật và thực tiễn trong lĩnh vực quản lý kinh tế;
- CĐR8: Xây dựng và phát triển được các phương pháp nghiên cứu mới trong lĩnh vực quản lý kinh tế.
2.4.3. Năng lực tự chủ và trách nhiệm
- CĐR9: Thực hiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm xã hội và ý thức tuân thủ pháp luật; thiết lập và duy trì các mối quan hệ hợp tác với chính quyền, cộng đồng và các tổ chức xã hội nhằm thúc đẩy quản lý kinh tế bền vững;
- CĐR10: Chủ động tổ chức và dẫn dắt các hoạt động tri thức, truyền bá và ứng dụng kết quả nghiên cứu về quản lý kinh tế trong cộng đồng; sáng tạo các ý tưởng và giải pháp có ý nghĩa thực tiễn, đóng góp vào sự phát triển của lĩnh vực quản lý kinh tế.
2.5 Ma trận đáp ứng mục tiêu đào tạo của chuẩn đầu ra
Kết quả xây dựng ma trận (phụ lục...) cho thấy các mục tiêu đào tạo được liên kết đầy đủ, logic và chặt chẽ với từng chuẩn đầu ra của chương trình. Mỗi chuẩn đầu ra đều được gắn với các mục tiêu tương ứng theo mức độ phù hợp, bảo đảm tính bao phủ toàn diện về kiến thức, kỹ năng, năng lực nghiên cứu và phẩm chất nghề nghiệp. Ma trận cũng chỉ ra sự phân bố hợp lý giữa các thành phần năng lực, phản ánh mức độ tích hợp và đồng bộ của chương trình, đồng thời tạo cơ sở để thiết kế cấu trúc học phần, phương pháp giảng dạy và đánh giá theo hướng bảo đảm chất lượng và đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao.
2.6 Đối sánh và tham chiếu bên ngoài
Các cơ sở đào tạo trong nước để đối sánh là các trường cũng đã có đào tạo chương trình thạc sĩ và tiến sĩ ngành Quản lý kinh tế, đó là Đại hoc kinh tế quốc dân (NEU), Đai học kinh tế của Đại học quốc gia (UEB-VNU), Học viện khoa học xã hội (VASS), Viện kinh tế xã hội và môi trường của Học viện chính trị Hồ Chí Minh (HCMA)
Về định hướng đào tạo và lĩnh vực ưu tiên
- NEU, UEB–VNU, VASS: Chú trọng nghiên cứu quản lý kinh tế theo hướng kinh tế học ứng dụng, kinh tế công, quản lý nhà nước, chính sách công, phát triển và kinh doanh. Phạm vi nghiên cứu rộng nhưng thiên về các ngành kinh tế truyền thống và kinh tế đô thị.
- HCMA: Mạnh về lý luận chính trị, quản lý nhà nước và hoạch định chính sách công cấp vĩ mô.
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam: Ngoài nền tảng kinh tế – xã hội chung, có ưu thế đặc thù về quản lý kinh tế gắn với nông nghiệp, nông thôn, kinh tế tài nguyên, quản trị chuỗi giá trị, kinh tế số trong nông nghiệp, phát triển bền vững. Đây là lĩnh vực mà các trường khác ít có lợi thế hoặc không có hệ sinh thái nghiên cứu mạnh mẽ để hỗ trợ.
Về cấu trúc chương trình và tính liên ngành
- NEU và UEB–VNU: Chương trình có tính hàn lâm cao, thiên về nghiên cứu định lượng, lý thuyết quản lý kinh tế và phát triển.
- HCMA: Lý luận nặng, phù hợp đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý khu vực công.
- VASS: Thế mạnh nghiên cứu xã hội học, phát triển và chính sách công.
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam: Tính liên ngành cao nhờ kết nối với 13 khoa chuyên môn, trong đó khối kinh tế – xã hội có 4 khoa; Có thể tích hợp sâu kiến thức kinh tế – quản lý – kỹ thuật – công nghệ nông nghiệp (ưu thế độc nhất); Tạo điều kiện cho nghiên cứu ứng dụng, gắn với doanh nghiệp, địa phương, các mô hình sản xuất – kinh doanh thực tế trong nông nghiệp.
Về đội ngũ giảng viên và năng lực nghiên cứu
- NEU, UEB–VNU: Đội ngũ mạnh, công bố quốc tế nhiều, kinh nghiệm nghiên cứu đa lĩnh vực.
- HCMA: Mạnh về lý luận, đường lối, chính sách công, khoa học chính trị.
- VASS: Nhiều chuyên gia về khoa học xã hội, nghiên cứu chính sách, phát triển.
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam: Riêng Khoa Kinh tế và Quản lý đã có gần 80% giảng viên có trình độ tiến sĩ, nhiều người có bài báo quốc tế, tham gia dự án quốc tế; Nhiều cán bộ trong khối kinh tế – xã hội tham gia các hội đồng ngành kinh tế – quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thể hiện uy tín học thuật cấp quốc gia; Có hệ sinh thái nghiên cứu rộng, bao gồm viện nghiên cứu – trung tâm – hợp tác doanh nghiệp, mà các trường kinh tế truyền thống không có trong lĩnh vực nông nghiệp.
Về quy mô và hệ thống đào tạo
- NEU, UEB–VNU, VASS: Quy mô đào tạo sau đại học lớn, lâu đời, có uy tín.
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam: Khối kinh tế – xã hội chiếm hơn 50% tổng sinh viên toàn Học viện; Có 18/43 ngành đại học, 6/16 ngành thạc sĩ, 5/16 ngành tiến sĩ thuộc khối kinh tế – xã hội; Là trường đa ngành có năng lực đào tạo đầy đủ từ cử nhân – thạc sĩ – tiến sĩ, tạo hành lang thuận lợi để phát triển một chương trình tiến sĩ mạnh về Quản lý kinh tế.
Về cơ sở vật chất, hạ tầng nghiên cứu
- NEU và UEB–VNU: Có điều kiện tốt, chuẩn quốc gia và khu vực.
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam: Sở hữu hệ thống cơ sở vật chất mới, hiện đại, được đầu tư lớn từ Dự án World Bank; Có các trung tâm phân tích dữ liệu, hệ thống phòng thí nghiệm, khu nghiên cứu thực nghiệm – hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng mà các trường kinh tế truyền thống không có.
Về hợp tác quốc tế
- NEU, UEB–VNU: Mạng lưới quốc tế rộng, liên kết với nhiều trường châu Âu và châu Á.
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam: Có mạng lưới hợp tác quốc tế đặc biệt sâu rộng trong cả hai lĩnh vực: kinh tế – xã hội và nông nghiệp – công nghệ; Nhiều chương trình liên kết nghiên cứu, hội thảo quốc tế, dự án ODA, dự án hợp tác phát triển; Đây là lợi thế vượt trội khi xây dựng chương trình tiến sĩ mang tính toàn cầu hóa và liên ngành.
Điểm vượt trội riêng của Học viện Nông nghiệp
- Là cơ sở có thể đào tạo Tiến sĩ Quản lý kinh tế gắn chặt với thực tiễn nông nghiệp – nông thôn – tài nguyên – môi trường – chuỗi giá trị – nông nghiệp số.
- Có hệ sinh thái liên ngành mạnh mẽ giữa kinh tế – quản lý – công nghệ – kỹ thuật nông nghiệp.
- Mạng lưới hợp tác doanh nghiệp – địa phương – tổ chức quốc tế phù hợp để triển khai các nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao chính sách.
Kết luận đối sánh: Qua phân tích so sánh với NEU, HCMA, UEB–VNU và VASS, có thể khẳng định rằng Học viện Nông nghiệp Việt Nam không chỉ đáp ứng đầy đủ các điều kiện mở ngành Tiến sĩ Quản lý kinh tế theo quy định, mà còn sở hữu những lợi thế đặc thù độc nhất trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, đặc biệt là: Năng lực đội ngũ mạnh và chuyên sâu; Hệ sinh thái nghiên cứu – đào tạo liên ngành rộng, gắn với thực tiễn nông nghiệp và phát triển nông thôn; Cơ sở vật chất hiện đại, mạng lưới quốc tế sâu rộng; Quy mô và hệ thống đào tạo kinh tế – xã hội lớn trong một trường đa ngành. Điều này cho phép chương trình Tiến sĩ Quản lý kinh tế của Học viện có thể trở thành một chương trình khác biệt, cạnh tranh cao và có tác động xã hội mạnh mẽ, đặc biệt trong quá trình hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển bền vững của Việt Nam.
2.7 Khả năng học tập nâng cao trình độ và phát triển nghề nghiệp
Người tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Quản lý kinh tế có thể công tác trong các lĩnh vực sau:
- Cán bộ giảng dạy tại các trường Đại học, Cao đẳng hoặc các Viện nghiên cứu chuyên ngành;
- Lãnh đạo, cán bộ quản lý hoặc chuyên viên tại các Bộ ngành liên quan, các cơ quan nhà nước ở các tỉnh như Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, Sở nội vụ, Sở Dân tộc và tôn giáo, Sở công thương, Sở văn hóa, thể thao và du lịch, Văn phòng ủy ban nhân dân các cấp…;
- Cán bộ làm việc tại các tổ chức phi chính phủ (NGOs), tổ chức quốc tế trong và ngoài nước.
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các doanh nghiệp, công ty;
- Chuyên gia tư vấn về quản lý kinh tế
Kết quả đánh giá nhu cầu của công giới cho thấy cơ hội xin việc làm của các ứng viên có học vị tiến sĩ thuận lợi hơn nhiều so với các ứng viên chưa có bằng tiến sĩ. Nhiều trường Đại học đã có chính sách đặc cách xét tuyển và cộng điểm cho ứng viên có trình độ tiến sĩ.
2.8 Yêu cầu đối với người dự tuyển
Thí sinh dự tuyển tiến sĩ chương trình Quản lý kinh tế cần đáp ứng các điều kiện sau:
- Có bằng Thạc sĩ đúng ngành hoặc các ngành gần (sẽ quy định danh mục ngành phù hợp).
- Trường hợp tốt nghiệp Đại học loại giỏi trở lên và có bài báo khoa học phù hợp với hướng nghiên cứu của chương trình thì có thể được xét tuyển thẳng theo quy định.
- Có đề cương nghiên cứu được Hội đồng đánh giá sơ bộ thông qua.
- Có minh chứng năng lực ngoại ngữ theo chuẩn đầu vào đào tạo tiến sĩ của Học viện.
- Có kinh nghiệm công tác chuyên môn hoặc nghiên cứu (tối thiểu 1–2 năm) phù hợp với lĩnh vực quản lý kinh tế, chính sách, kinh tế nông nghiệp (đối với một số hình thức xét tuyển).
Người dự tuyển phải có bằng thạc sĩ hoặc đại học thuộc ngành đúng và phù hợp với ngành quản lý kinh tế. Trường hợp có bằng gần với ngành tuyển sinh thì phải học bổ sung một số môn theo như quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo và qui chế đào tạo tiến sĩ của Học viện.
Về ngành đúng và ngành gần được qui định như dưới đây
a) Ngành đúng
- Có bằng đại học/thạc sĩ phù hợp với chuyên ngành đăng ký dự tuyển. Cụ thể:
Ngành/chuyên ngành đúng và phù hợp là ngành có mã số cấp IV trong chương trình đào tạo thạc sĩ theo quy định của Thông tư 25/2017/TT-BGDĐT ngày 10/10/2017 và Quyết định 740/QĐ-BGDĐT ngày 9/3/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Cụ thể các chuyên ngành: Quản trị- quản lý (Chính sách công, quản lý công, Quản trị nhân lực), Kinh tế học (Kinh tế học, Kinh tế đầu tư, Kinh tế phát triển, Kinh tế quốc tế, Quản lý kinh tế), Kinh tế nông nghiệp
b). Ngành gần
Gồm 3 nhóm:
Nhóm I: Luật (Luật kinh tế, Luật quốc tế), Kế toán- Kiểm toán, Tài chính- Ngân hàng, Bảo hiểm, Kinh doanh (Quản trị kinh doanh), Quản trị- Quản lý (Khoa học quản lý, Quản lý khoa học và công nghệ, ) Marketing, Kinh doanh quốc tế, Phát triển nông thôn.
Nhóm II: Kinh tế học (Kinh tế chính trị, Toán kinh tế, Thống kê kinh tế), Khoa học chính trị (Chính trị học, Quan hệ quốc tế), Xã hội học và Nhân học (Xã hội học, dân tộc học), Phát triển bền vững, Khu vực học và văn hóa học (Quản lý văn hóa), Kinh doanh (Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Kinh doanh thương mại), Quản trị- Quản lý (Hệ thống thông tin quản lý, Quản trị văn phòng), Quản lý công nghiệp, Quản lý năng lượng), Thống kê, Lâm nghiệp (Quản lý tài nguyên rừng), Thủy sản (Quản lý thủy sản), Thú y, Môi trường và bảo vệ môi trường (Quản lý tài nguyên và môi trường, Quản lý đất đai), Khoa học giáo dục (Quản lý giáo dục), Kinh tế xây dựng, Quản lý xây dựng, Công tác xã hội, Kiến trúc và qui hoạch (Qui hoạch vùng và đô thị, Quản lý đô thị và công trình)
Nhóm III: Các ngành khác
Trường hợp người dự tuyển có bằng Đại học ngành đúng hoặc ngành gần với chuyên ngành dự tuyển nghiên cứu sinh thì người dự tuyển sẽ được học chương trình đạo tạo Thạc sĩ theo quy định của Học viện sau khi trúng tuyển và được Hội đồng Tuyển sinh Học viện Nông nghiệp Việt Nam xem xét cụ thể từng trường hợp.
Trường hợp người dự tuyển có bằng Thạc sĩ ngành gần với chuyên ngành dự tuyển nghiên cứu sinh, thì người dự tuyển cần học bổ sung kiến thức trình độ Thạc sĩ sau khi trúng tuyển; các bằng Thạc sĩ tốt nghiệp thuộc chuyên ngành không có trong danh mục này nhưng có chuyên môn gần với chuyên ngành đăng ký dự tuyển sẽ được Hội đồng Tuyển sinh Học viện Nông nghiệp Việt Nam xem xét cụ thể khi người dự tuyển nộp hồ sơ.
2.9 Phương thức tuyển sinh
Chương trình áp dụng hình thức xét tuyển kết hợp đánh giá năng lực nghiên cứu, gồm 3 cấu phần:
(1) Xét hồ sơ
Bao gồm:
- Lý lịch khoa học, bằng cấp và bảng điểm.
- Minh chứng năng lực ngoại ngữ.
- Các công bố khoa học liên quan (nếu có).
- Thư giới thiệu của ít nhất 01 nhà khoa học.
- Đề cương nghiên cứu dự kiến.
- Hồ sơ xác nhận kinh nghiệm chuyên môn hoặc dự án nghiên cứu đã tham gia.
- Tiêu chí đánh giá: nền tảng học thuật, phù hợp ngành/chuyên ngành, năng lực phương pháp luận cơ bản, định hướng nghiên cứu rõ ràng.
(2) Đánh giá năng lực nghiên cứu (phỏng vấn – bảo vệ đề cương)
Hội đồng tổ chức phỏng vấn trực tiếp và yêu cầu thí sinh trình bày đề cương nghiên cứu. Các nội dung:
- Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và đóng góp dự kiến.
- Tổng quan vấn đề và khoảng trống nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu dự kiến (định tính, định lượng, mô hình hoá, phân tích chính sách…).
- Khả năng tiếp cận dữ liệu.
- Khả năng sử dụng ngoại ngữ trong nghiên cứu và thảo luận.
- Định hướng phù hợp của thí sinh với nhóm nghiên cứu/đề tài của giảng viên hướng dẫn.
Điểm đánh giá thường trên thang 100, yêu cầu đạt tối thiểu 70 điểm.
(3) Đánh giá ngoại ngữ
Thí sinh phải có chứng chỉ ngoại ngữ tương đương Bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam hoặc các chứng chỉ quốc tế tương đương (IELTS ≥ 5.5, TOEFL iBT ≥ 46, hoặc tương đương), còn thời hạn 2 năm.
Ưu tiên trong tuyển sinh
- Ứng viên có bài báo khoa học liên quan đến lĩnh vực quản lý kinh tế, Quản lý công, kinh tế nông nghiệp, chính sách công, kinh tế phát triển trong giai đoạn 3 năm gần nhất.
- Ứng viên đang làm việc tại cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học hoặc tham gia các chương trình/dự án phát triển nông nghiệp – nông thôn.
- Ứng viên có đề cương nghiên cứu gắn với định hướng của chương trình hoặc thuộc lĩnh vực ưu tiên như: kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số nông nghiệp, kinh tế phát triển vùng, chính sách công.
2.10 Điều kiện tốt nghiệp
Nghiên cứu sinh được công nhận tốt nghiệp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Hoàn thành khối lượng học tập theo quy định: Tích lũy đủ số tín chỉ của các học phần bắt buộc và tự chọn theo chương trình đào tạo; Đạt yêu cầu tất cả các học phần, seminar và báo cáo tiến độ (điểm đạt tối thiểu theo quy chế).
- Hoàn thành các yêu cầu nghiên cứu khoa học: Có tối thiểu 2 điểm liên quan tới bài báo đăng trên tạp chí khoa học có phản biện thuộc danh mục của Học viện; Có ít nhất 02 báo cáo hội thảo khoa học trong nước hoặc quốc tế phù hợp với đề tài luận án.
- Hoàn thành luận án tiến sĩ: Luận án đáp ứng các yêu cầu về: Tính mới, tính học thuật và đóng góp thực tiễn cho quản lý kinh tế; Cấu trúc và chuẩn mực theo Quy chế đào tạo trình độ Tiến sĩ của Bộ GD&ĐT và quy định của Học viện. Luận án phải được: Hội đồng chuyên môn cấp Khoa thông qua; Đánh giá kín bởi ít nhất 02 phản biện độc lập; Bảo vệ thành công tại Hội đồng cấp Học viện với số phiếu đồng ý đạt ≥ 2/3 tổng số thành viên.
- Yêu cầu về đạo đức và chuẩn mực học thuật
- Yêu cầu về ngoại ngữ: Đạt chuẩn ngoại ngữ tối thiểu Bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc Việt Nam hoặc chứng chỉ quốc tế tương đương (IELTS/TOEFL...); Minh chứng năng lực sử dụng ngoại ngữ trong nghiên cứu (trích dẫn, báo cáo, trình bày).
- Hoàn thành các nghĩa vụ khác: Nộp luận án bản cứng và bản điện tử theo đúng mẫu; Hoàn thành nghĩa vụ tài chính và quản lý đào tạo theo quy định.
2.11 Phương pháp giảng dạy học tập và đánh giá
Chương trình Tiến sĩ Quản lý kinh tế áp dụng phương pháp đào tạo hiện đại, định hướng nghiên cứu và cá thể hóa cho nghiên cứu sinh:
a) Phương pháp giảng dạy
- Dạy học theo phương pháp seminar, tranh luận học thuật, thảo luận bài báo khoa học.
- Học qua nghiên cứu (Research-based learning):
- Học tập định hướng giải quyết vấn đề (Problem-based learning)
- Học tập liên ngành và ứng dụng công cụ hiện đại
b) Phương pháp học tập của nghiên cứu sinh
- Tự nghiên cứu có định hướng, dưới sự tư vấn của giảng viên hướng dẫn.
- Tham gia nhóm nghiên cứu, hội thảo nội bộ, đọc và thảo luận bài báo quốc tế.
- Đi thực tế, thực địa: khảo sát địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ quan quản lý.
- Viết bài báo, báo cáo tiến độ, tham gia phản biện chéo trong nhóm nghiên cứu.
c) Phương pháp đánh giá
NCS sẽ được đánh giá dựa trên năng lực nghiên cứu và kết quả học tập theo nhiều hình thức:
- Đánh giá học phần: Thuyết trình chuyên đề; Báo cáo phân tích học thuật; Bài viết tổng quan (literature review); Kiểm tra năng lực phương pháp luận; Tham gia và đóng góp trong thảo luận seminar.
- Đánh giá quá trình nghiên cứu: Báo cáo tiến độ định kỳ (6 tháng/lần hoặc theo quy định); Sản phẩm nghiên cứu: bản thảo bài báo, bộ dữ liệu, mô hình phân tích, tổng quan nghiên cứu; Mức độ hoàn thành mục tiêu theo kế hoạch nghiên cứu cá nhân.
- Đánh giá qua các công bố khoa học: Số lượng và chất lượng bài báo theo chuẩn đầu ra; Mức độ đóng góp của nghiên cứu sinh trong nhóm tác giả.
- Đánh giá luận án: Đánh giá kín bởi phản biện; Đánh giá tại hội đồng cấp Khoa và cấp Học viện; Chất lượng nội dung, đóng góp mới và giá trị thực tiễn.
- Đánh giá năng lực ngoại ngữ: Khả năng trình bày seminar bằng ngoại ngữ; Khả năng sử dụng tài liệu quốc tế trong luận án.
2.12. Nội dung chương trình đào tạo
4.12.1 Thời gian đào tạo
Thời gian đào tạo tiêu chuẩn của trình độ tiến sĩ là 04 năm (48 tháng).
|
TT
|
Khối kiến thức
|
Số tín chỉ
|
|
|
Kiến thức bổ sung
|
Theo qui định chung
|
|
1
|
Kiến thức bắt buộc chung
|
6
|
|
2
|
Kiến thức tự chọn
|
4
|
|
3
|
Tiểu luận tổng quan
|
4
|
|
4
|
Chuyên đề
|
6
|
|
5
|
Luận án
|
70
|
|
|
Cộng
|
90
|
4.12.2. Danh mục các học phần trong chương trình đào tạo
Học phần bổ sung
Đối với nghiên cứu sinh đã tốt nghiệp trình độ thạc sĩ: Căn cứ vào các học phần đã tích lũy ở trình độ thạc sĩ, kiến thức cần cập nhật, bổ sung và yêu cầu của lĩnh vực, đề tài nghiên cứu. Nghiên cứu sinh tốt nghiệp trình độ thạc sĩ ngành phù hợp từ 10 năm trở lên tính đến ngày xét tuyển phải học bổ sung 6 tín chỉ; tốt nghiệp ngành gần dưới 10 năm phải học bổ sung 9 tín chỉ và 15 tín chỉ nếu tốt nghiệp từ 10 năm trở lên.
Đối với nghiên cứu sinh tốt nghiệp trình độ đại học ngành phù hợp nhưng chưa tốt nghiệp trình độ thạc sĩ hoặc đã tốt nghiệp trình độ thạc sĩ nhưng thuộc ngành khác so với ngành đăng ký dự tuyển: Các học phần bổ sung bao gồm các học phần ở trình độ đại học theo Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ hiện hành (đối với nghiên cứu sinh chưa tốt nghiệp trình độ thạc sĩ) và các học phần ở trình độ thạc sĩ thuộc ngành tương ứng hiện hành, trừ các học phần ngoại ngữ và luận văn; có khối lượng kiến thức tối thiểu 30 tín chỉ để đảm bảo nghiên cứu sinh đạt chuẩn đầu ra Bậc 7 của Khung trình độ quốc gia và yêu cầu của chương trình đào tạo.
Học phần bổ sung cho từng nghiên cứu sinh do người hướng dẫn, bộ môn quản lý đề xuất, khoa chuyên môn thông qua và làm văn bản trình Giám đốc Học viện ra quyết định.
Điểm hoàn thành học phần bổ sung là từ 5,5 trở lên
Học phần tiến sĩ
|
TTT
|
Mã
|
Tên học phần
|
Tên tiếng Anh
|
Tổng số TC
|
BB
|
TC
|
|
I. HỌC PHẦN TIẾN SĨ
|
10
|
6
|
4
|
|
11
|
KT99001
|
Phương pháp nghiên cứu trong quản lý kinh tế
|
Research methods in economic management
|
2
|
xx
|
|
|
22
|
KT99002
|
Quản lý kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số
|
Management in the Context of Globalization and Digital Transformation
|
2
|
xx
|
|
|
23
|
KT99003
|
Phân tích chính sách kinh tế xã hội
|
Socio-economic policy analysis
|
2
|
xx
|
|
|
24
|
KT99004
|
Quản trị địa phương và phát triển kinh tế vùng
|
Local Governance and Regional Economic Development
|
2
|
|
Xx
|
|
25
|
KT99005
|
Kinh tế và phát triển bền vững
|
Economics and Sustainable Development
|
2
|
|
Xx
|
|
26
|
KT99006
|
Khoa học lãnh đạo và tư duy phản biện
|
Leadership Science and Critical Thinking
|
2
|
|
Xx
|
|
27
|
KT99007
|
Quản lý nguồn nhân lực
|
Human Resource Management
|
2
|
|
Xx
|
|
88
|
KT99008
|
Quản lý kinh doanh thương mại trong bối cảnh chuyển đổi số
|
Commercial business management in the context of digital transformation
|
2
|
|
Xx
|
|
19
|
KT99009
|
Quản lý nông nghiệp, nông thôn và hội nhập
|
Agricultural and rural management and integration
|
2
|
|
Xx
|
|
910
|
KT99010
|
Chuyên đề Quản lý Kinh tế
|
Special topics in economic management
|
2
|
|
Xx
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
II. TIỂU LUẬN TỔNG QUAN VÀ CHUYÊN ĐỀ
|
10
|
4
|
6
|
|
111
|
KT99901
|
Tiểu luận tổng quan
|
Literature review essays
|
4
|
xx
|
|
|
212
|
KT99902
|
Chuyên đề tiến sĩ 1
|
Doctoral Specialization 1
|
3
|
xx
|
x
|
|
313
|
KT99903
|
Chuyên đề tiến sĩ 2
|
Doctoral Specialization 2
|
3
|
xx
|
x
|
|
IIII LUẬN ÁN
|
70
|
XX
|
|
|
114
|
KT99904
|
Học phần luận án 1
|
Dissertation component 1
|
14
|
Xx
|
|
|
115
|
KT99905
|
Học phần luận án 2
|
Dissertation component 2
|
14
|
xx
|
|
|
|
KT99906
|
Học phần luận án 3
|
Dissertation component 3
|
14
|
Xx
|
x
|
|
|
KT99907
|
Học phần luận án 4
|
Dissertation component 4
|
14
|
xx
|
|
|
|
KT99908
|
Học phần luận án 5
|
Dissertation component 5
|
14
|
xx
|
|
|
|
KT99909
|
Học phần luận án 6
|
Dissertation component 6
|
1
|
xx
|
|